vanban.org

Bản án 23/2025/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng tín dụng

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc "Tranh chấp hợp đồng tín dụng" của Công ty TNHH MTV S đối với bà Nguyễn Thị Lệ A

Buộc bà Nguyễn Thị Lệ A phải trả cho Công ty TNHH MTV S số tiền tạm tính đến ngày 28/3/2025 là 69.137.667 đồng; (trong đó nợ gốc 28.464.370 đồng; lãi trong hạn 5.200.525 đồng; lãi quá hạn chậm trả gốc 34.086.389 đồng; lãi chậm trả lãi quá hạn 1.386.383 đồng). Bà Nguyễn Thị Lệ A phải tiếp tục trả lãi… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "Tranh chấp Hợp đồng tín dụng"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc "Tranh chấp hợp đồng tín dụng" của Công ty TNHH MTV S đối với bà Nguyễn Thị Lệ A
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN HÒA VANG - TP ĐÀ NẴNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 23/2025/DS - ST
Ngày 25 tháng 4 năm 2025
V/v “Tranh chấp Hợp đồng tín dụng"

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÒA VANG, TP ĐÀ NẴNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Hữu Khánh

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Lê Văn Bút

2. Ông Nguyễn Đình Hùng

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Ly - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng.

Trong ngày 25/4/2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 295/2024/TLST-DS ngày 25 tháng 12 năm 2024 về việc "Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 295/2024/QĐXXST - DS ngày 28/3/2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 295/2024/QĐST-DS ngày 11/4/2024, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Công ty tài chính TNHH Một thành viên S. Trụ sở: Tầng 19, tháp B khu thương mại dịch vụ kết hợp nhà cao tầng lô đất 1-13 thuộc khu chức năng số 1- số 15 đường Bạch Đặng, phường Thủ Thiêm thành phố Thủ Đức, thành phố Hồ Chí Minh. Đại diện theo pháp luật: Ông CHUN YOUNG ILL - Chức vụ: Tổng giám đốc.

Đại diện theo uỷ quyền: Công ty luật TNHH MTV DANALAW; địa chỉ trụ sở: 81 Nguyễn Trác, phường Hoà Cường Bắc, quận Hải Châu, TP Đà Nẵng. Người được uỷ quyền lại: Ông Hoàng Xuân Hữu, sinh năm 2002; địa chỉ: 81 Nguyễn Trác, phường Hoà Cường Bắc, quận Hải Châu, TP Đà Nẵng (có mặt)

2. Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Lệ A, sinh năm: 1985; Địa chỉ: Thôn Dương Sơn Đông, xã Hoà Châu, huyện Hoà Vang, thành phố Đà Nẵng. (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Theo đơn khởi kiện gửi đến Tòa án, bản tự khai và trình bày tại phiên tòa hôm nay của đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn thể hiện:

Công ty TNHH MTV S và bà Nguyễn Thị Lệ A đã ký kết Hợp đồng vay số 100016909 ngày 15/3/2019. Số tiền vay là 79.000.000 đồng; mục đích vay: tiêu dùng cá nhân; lãi suất 32 %/năm; kỳ hạn thanh toán nợ gốc và lãi củav khoản vay: 48 tháng. Thực hiện Hợp đồng Công ty TNHH MTV S đã giải ngân số tiền 76.000.000 đồng cho bà Nguyễn Thị Lệ A vào ngày 15/3/2019.

Căn cứ các quy định của Hợp đồng, bà Nguyễn Thị Lệ A có nghĩa vụ thanh toán khoản vay bao gồm gốc và lãi trong vòng 48 kỳ vào ngày 5 hàng tháng, số tiền thanh toán mỗi kỳ là 2.805.414 đồng, kỳ đầu vào ngày 05/4/2019, kỳ cuối vào ngày 05/3/2023. Tuy nhiên đến nay bà Nguyễn Thị Lệ A chỉ mới thanh toán được 36 kỳ với số tiền 1102.275.301 đồng. Bà Nguyễn Thị Lệ A đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán. Mặc dù công ty đã nhiều lần liên hệ và tạo điều kiện cho bà Nguyễn Thị Lệ A thanh toán, nhưng bà Nguyễn Thị Lệ A vẫn không thực hiện đầy đủ nghĩa vụ thanh toán cho Công ty tài chính Shinhan

Do đó để bảo vệ quyền lợi hợp pháp của Công ty TNHH MTV S đề nghị Tòa án giải quyết:

Buộc bà Nguyễn Thị Lệ A trả cho Công ty TNHH MTV S số tiền tạm tính đến ngày 28/3/2025 là 69.137.667 đồng; (trong đó nợ gốc 28.464.370 đồng; lãi trong hạn 5.200.525 đồng; lãi quá hạn chậm trả gốc 34.086.389đ; lãi chậm trả lãi quá hạn 1.386.383đ). Bà Nguyễn Thị Lệ A có trách nhiệm thanh toán khoản lãi phát sinh từ ngày 29/3/2025 cho đến khi trả dứt nợ vay theo lãi suất quy định tại Hợp đồng.

* Trong quá trình giải quyết vụ án, Toà án nhân dân huyện Hòa Vang đã tống đạt và niêm yết Thông báo về việc thụ lý vụ án cho bà Nguyễn Thị Lệ A, để biết việc Công ty TNHH MTV S gửi đơn khởi kiện đến Tòa án. Đồng thời, Toà án đã tống đạt các thông báo và tiến hành niêm yết công khai về các phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, thông báo kết quả phiên họp; quyết định về việc đưa vụ án ra xét xử và quyết định hoãn phiên tòa đối với bà Nguyễn Thị Lệ A, nhưng bà Nguyễn Thị Lệ A không có ý kiến phản hồi và vắng mặt tại các phiên hoà giải cũng như hai lần mở phiên toà.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng:

- Công ty TNHH MTV S khởi kiện đối với bị đơn Nguyễn Thị Lệ A, sinh năm: 1985; Địa chỉ: Thôn Dương Sơn Đông, xã Hoà Châu, huyện Hoà Vang, thành phố Đà Nẵng. Do đó căn cứ vào các Điều 26, 35, 39 của Bộ luật tố tụng dân sự, xác định yêu cầu khởi kiện của Công ty TNHH MTV S nộp đúng trình tự thủ tục; thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng nên được xem xét, giải quyết theo quy định của pháp luật.

- Tòa án đã triệu tập hợp lệ bà Nguyễn Thị Lệ A tham gia phiên tòa đến lần thứ hai nhưng bà Nguyễn Thị Lệ A vẫn vắng mặt. Vì vậy căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bà Nguyễn Thị Lệ A.

Về nội dung vụ án:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án thể hiện: Công ty TNHH MTV S và bà Nguyễn Thị Lệ A đã ký kết Hợp đồng vay số 100016909 ngày 15/3/2019. Số tiền vay là 79.000.000 đồng; mục đích vay: tiêu dùng cá nhân; lãi suất 32 %/năm; kỳ hạn thanh toán nợ gốc và lãi của khoản vay: 48 tháng. Thực hiện Hợp đồng Công ty TNHH MTV S đã giải ngân số tiền 76.000.000 đồng cho bà Nguyễn Thị Lệ A vào ngày 15/3/2019.

Theo đại diện của nguyên đơn thì quá trình thực hiện Hợp đồng bà Nguyễn Thị Lệ A phải có nghĩa vụ thanh toán đúng tiến độ theo lịch trả nợ điều chỉnh và các thông báo nhắc nợ mà Công ty TNHH MTV S gửi tuỳ từng thời điểm. Tuy nhiên, bà Nguyễn Thị Lệ A đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán. Mặc dù công ty đã nhiều lần liên hệ và tạo điều kiện cho bà Nguyễn Thị Lệ A thanh toán, nhưng bà Nguyễn Thị Lệ A vẫn không thực hiện đầy đủ nghĩa vụ thanh toán cho Công ty tài chính Shinhan

Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã thông báo cho bị đơn bà Nguyễn Thị Lệ A biết việc khởi kiện của nguyên đơn, tuy nhiên bị đơn đã không đến Tòa án tham gia các phiên hòa giải, không có văn bản phản hồi đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn cũng như không cung cấp chứng cứ để chứng minh đã trả một phần hay toàn bộ số tiền đã vay của nguyên đơn.

Như vậy, căn cứ Hợp đồng tín dụng mà các bên đã ký thì bà Nguyễn Thị Lệ A đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ, vi phạm các cam kết trong hợp đồng tín dụng. Do đó, Hội đồng xét xử có căn cứ chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bị đơn bà Nguyễn Thị Lệ A phải thanh toán cho Công ty TNHH MTV S tổng số tiền còn nợ tạm tính đến ngày 28/3/2025 là 69.137.667 đồng; (trong đó nợ gốc 28.464.370 đồng; lãi trong hạn 5.200.525 đồng; lãi quá hạn chậm trả gốc 34.086.389 đồng; lãi chậm trả lãi quá hạn 1.386.383 đồng)

Đồng thời bà Nguyễn Thị Lệ A phải tiếp tục thanh toán lãi phát sinh tính từ ngày 29/3/2025 cho đến khi thực hiện xong nghĩa vụ, lãi suất theo hợp đồng tín dụng đã ký là phù hợp với quy định tại Điều 466 của Bộ luật Dân sự; Điều 91 Điều 95 của Luật các tổ chức tín dụng.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

- Bị đơn bà Nguyễn Thị Lệ A phải chịu là: 69.137.667 đồng x 5% = 3.457.000 đồng

- Hoàn trả lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp cho Công ty TNHH MTV S

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc "Tranh chấp hợp đồng tín dụng" của Công ty TNHH MTV S đối với bà Nguyễn Thị Lệ A

Căn cứ vào các Điều 26, 35, 39, và 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ Điều 466 của Bộ luật dân sự;

Căn cứ Điều 91, Điều 95 của Luật các tổ chức tín dụng;

Tuyên xử:

1. Buộc bà Nguyễn Thị Lệ A phải trả cho Công ty TNHH MTV S số tiền tạm tính đến ngày 28/3/2025 là 69.137.667 đồng; (trong đó nợ gốc 28.464.370 đồng; lãi trong hạn 5.200.525 đồng; lãi quá hạn chậm trả gốc 34.086.389 đồng; lãi chậm trả lãi quá hạn 1.386.383 đồng).

Bà Nguyễn Thị Lệ A phải tiếp tục trả lãi phát sinh cho Công ty TNHH MTV S kể từ ngày 29/3/2025 cho đến khi thanh toán xong khoản nợ theo lãi suất của hợp đồng tín dụng đã ký kết.

2. Án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 (V/v quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án).

- Buộc bà Nguyễn Thị Lệ A phải chịu án phí dân sự là 3.457.000 đồng.

- Hoàn trả cho Công ty TNHH MTV S số tiền tạm ứng án phí 1.617.000 (một triệu sáu trăm mười bảy nghìn đồng) đã nộp theo biên lai thu số 0008322 ngày 25/12/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hoà Vang, thành phố Đà Nẵng.

3. Án xử công khai sơ thẩm, nguyên đơn có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận hoặc niêm yết trích sao bản án.

Trường hợp bản án được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ