vanban.org

Bản án 23/2024/HS-ST — Hình sự

TAND TX. Dĩ An, tỉnh Bình Dương Tuyên án 19/01/2024 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Cao Ngọc C phạm tội Cố ý gây thƣơng tích.

Xử phạt bị cáo Cao Ngọc C 01 (một) năm 08 (tám) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 13/10/2023 (bị cáo đƣợc khấu trừ thời gian tạm giam từ ngày 24/02/2023 đến ngày 31/8/2023). Trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 Bộ luật Hình sự; Điều 468, 584, 589 Bộ luật Dân sự; Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 19/9/… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Cao Ngọc C phạm tội Cố ý gây thương tích - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Cao Ngọc C phạm tội Cố ý gây thƣơng tích.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP Hướng dẫn áp dụng một số quy đ…; Điều 134 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ DĨ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH BÌNH DƢƠNG
———————
Bản án số: 23/2024/HS-ST
Ngày 19-01-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Thị Liễng

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Phạm Tú Nhi.

2. Bà Nguyễn Thị Kim Hoa.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tố Anh, là Thƣ ký Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An tham gia phiên tòa: Ông Trần Trọng An - Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 01 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 461/2023/TLST-HS ngày 25 tháng 12 năm 2023 theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số 05/2024/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 01 năm 2024 đối với bị cáo:

Cao Ngọc C, sinh năm 1984 tại tỉnh Quảng Ngãi; thƣờng trú: Thôn K, xã T, thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi; nghề nghiệp: Phụ hồ; trình độ học vấn: Lớp 9/12; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông Cao T (đã chết) và Phạm Thị L, sinh năm 1959; vợ tên Huỳnh Kiến H, sinh năm 1990; có 02 con, lớn sinh năm 2011, nhỏ sinh năm 2014; tiền án, tiền sự: Không; bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 24/02/2023, đƣợc thay đổi biện pháp ngăn chặn ngày 31/8/2023, bị bắt tạm giam lại ngày 13/10/2023. Có mặt tại phiên tòa.

- Người đại diện hợp pháp cho bị cáo: Ông Cao C1, sinh năm 1966; thƣờng trú: T, thôn K, xã T, thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi. Có mặt.

- Người bào chữa cho bị cáo: Ông Hoàng Tân V, sinh năm 1976 – Luật sƣ Văn phòng L1, thuộc L2; địa chỉ: Số I, đƣờng D - T, khu phố N, phƣờng D, thành phố D, tỉnh Bình Dƣơng. Có mặt.

- Bị hại: Anh Lê Hùng S, sinh năm 1973; thƣờng trú: số B, khóm C, phƣờng A, thành phố S, tỉnh Đồng Tháp; tạm trú: Tổ G, khu phố T, phƣờng T, thành phố D, tỉnh Bình Dƣơng. Vắng mặt.

- Người chứng kiến: Anh Huỳnh Văn H1. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án đƣợc tóm tắt nhƣ sau:

Cao Ngọc C và anh Lê Hùng S có mâu thuẫn từ trƣớc do trƣớc đó anh S có đánh C nhƣng không gây thƣơng tích. Khoảng 08 giờ 30 phút ngày 05/02/2022, Cao Ngọc C nhận đƣợc điện thoại của Bê là bạn mới quen ngoài xã hội (chƣa rõ nhân thân) rủ đến phòng trọ của bạn B để nhậu. Cƣơng đến khu vực chợ D, thuộc phƣờng D, thành phố D, tỉnh Bình Dƣơng đứng chờ B để B dẫn C đến phòng trọ của bạn B (C không rõ nhớ địa chỉ cụ thể, do mới đến lần đầu). Tại phòng trọ có 3 ngƣời nhƣng C không biết họ tên, nhân thân. Trong lúc đang nhậu, C kể sự việc khoảng tháng 01/2022, C bị anh Lê Hùng S đánh cho B nghe. Nghe xong B nói “để tao giúp cho”, C hiểu ý của B sẽ tìm đánh anh Lê Hùng S. Sau khi nhậu xong, B nói với C về phòng trọ lấy hàng (dao) và C cũng về lại phòng trọ của C tại khu phố T, phƣờng T, thành phố D, tỉnh Bình Dƣơng lấy hung khí là 01 cây chĩa nhọn. Cƣơng ngồi đợi đến khoảng 12 giờ 30 phút ngày 05/02/2022 thì B điều khiển xe Honda Wave (không nhớ biển số) đến, trên yên xe C thấy có 01 con dao tự chế đƣợc quấn vải xung quanh. Khoảng 13 giờ 00 phút cùng ngày, C điều khiển xe gắn máy Honda Cúp màu xanh (không nhớ biển số) chở theo B mang theo hung khí đi tìm anh Lê Hùng S để đánh. Khi tới bãi đất trống thuộc tổ G, khu phố T, phƣờng T, thành phố D, tỉnh Bình Dƣơng thì C và B thấy anh S đang cho gà ăn. C dừng xe mô tô cùng với B cầm hung khí là cây chĩa nhọn, dao tự chế chạy đến chỗ anh S. Thấy C cùng đồng bọn cầm hung khí chạy đến đánh nên anh S bỏ chạy bộ đƣợc khoảng 05 mét thì bị vấp ngã xuống đất, C đuổi đến dùng cây chĩa đâm 01 cái vào mông của anh S, nhƣng không gây thƣơng tích. Cƣơng thấy mọi ngƣời đứng đông nên chạy ra đầu đƣờng cách vị trí anh S nằm khoảng 15 mét đứng cảnh giới và quay mặt về phía anh S thì thấy B dùng dao tự chế chém nhiều cái vào ngƣời anh S. Thấy anh S bị thƣơng chảy máu nên C kêu Bê đừng chém nữa. Sau đó C điều khiển xe mô tô chở B về phòng trọ của C thì B nói “tao giúp cho mày đó” rồi B cầm dao lên xe bỏ đi. Lúc này, C vứt cây chĩa gần nhà trọ rồi dọn đồ bỏ về quê ở thôn K, xã T, thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi. Riêng anh S đƣợc ngƣời dân đƣa đi cấp cứu và điều trị vết thƣơng tại Bệnh viện Q.

Tại Bản Kết luận giám định pháp y về thƣơng tích số 0597/TgT/2022 ngày 06 tháng 6 năm 2022 của Trung tâm Pháp y - Sở Y, kết luận về thƣơng tích của bị hại Lê Hùng S nhƣ sau:

+ Tổn thƣơng mẻ xƣơng đốt I ngón 1 tay phải, tỷ lệ 02%;

+ Gãy đốt I ngón 3 tay phải, tỷ lệ 02%;

+ Tổn thƣơng gãy chỏm xƣơng bàn 2 tay phải, tỷ lệ 08%;

+ Sẹo mu bàn tay phải kích thƣớc 11,5x0,3cm, tỷ lệ 02%.

Tỷ lệ tổn thƣơng cơ thể do thƣơng tích gây nên của bị hại Lê Hùng S áp dụng theo phƣơng pháp cộng tại Thông tƣ là 13%.

Đối với tên B (chƣa rõ nhân thân) Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố D tiếp tục xác minh, làm rõ xử lý sau.

Tại kết luận giám định số 742/KL-VPYTW ngày 09/10/2023 của Viện pháp y tâm thần trung ƣơng B1 kết luận:

- Về y học: Trƣớc, trong, sau khi gây án và hiện nay: Đƣơng sự bị bệnh rối loạn cảm xúc không ổn định thực tổn (F06.6-ICD.10).

- Về khả năng nhận thức, điều khiển hành vi: Tại thời điểm gây án và hiện nay đƣơng sự bị hạn chế khả năng nhận thức và điều khiển hành vi.

Quá trình điều tra, bị cáo và các đƣơng sự không có ý kiến hay khiếu nại gì về kết luận giám định số 0597/TgT/2022 ngày 06 tháng 6 năm 2022 của Trung tâm Pháp y - Sở Y và kết luận giám định số 742/KL-VPYTW ngày 09/10/2023 của Viện pháp y tâm thần trung ƣơng B1.

Tại Cáo trạng số 126/CT-VKS ngày 22 tháng 12 năm 2023, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng truy tố bị cáo Cao Ngọc C về tội Cố ý gây thƣơng tích theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa, trong phần tranh luận đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm s, q khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54 Bộ luật Hình sự để xử phạt bị cáo Cao Ngọc C từ 01 năm 08 tháng đến 02 năm tù.

Về trách nhiệm dân sự: Đề nghị Hội đồng xét xử buộc bị cáo Cao Ngọc C tiếp tục bồi thƣờng cho bị hại 11.000.000 đồng. Trả cho bị hại số tiền 4.000.000 đồng tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng.

Ngƣời bào chữa cho bị cáo thống nhất về tội danh, điều luật theo Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố và nêu một số tình tiết: Khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo bị hạn chế khả năng nhận thức và điều khiển hành vi; bị cáo có nhân thân tốt; có hoàn cảnh gia đình đặc biệt khó khăn, theo trình bày của bị cáo và gia đình thì vợ đã bỏ đi từ khi con còn nhỏ, 02 ngƣời con của bị cáo hiện đang phải gửi tại trung tâm B2 của tỉnh Quảng Ngãi; xét về nguyên nhân gây ra thƣơng tích của bị hại là do trƣớc đó bị hại và bị cáo đã có mâu thuẫn với nhau, bị cáo không phải là ngƣời trực tiếp gây thƣơng tích cho bị hại mà thƣơng tích của bị hại là do B gây ra, khi thấy B dùng dao chém bị hại gây thƣơng tích bị cáo đã ngăn cản để hạn chế thiệt hại xảy ra. Từ đó, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét áp dụng mức hình phạt thấp nhất, trong trƣờng hợp có thể áp dụng đƣợc thì áp dụng hình phạt tù nhƣng cho hƣởng án treo.

Ngƣời đại diện hợp pháp cho bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Bị cáo thống nhất với ý kiến tranh luận của ngƣời bào chữa và không trình bày bổ sung gì thêm, trong lời nói sau cùng bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã đƣợc tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định nhƣ sau:

Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan an ninh điều tra Công an tỉnh B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dƣơng, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình tố tụng, bị cáo và ngƣời tham gia tố tụng không có ý kiến gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

Căn cứ vào lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, tại phiên tòa, lời khai của những ngƣời tham gia tố tụng, kết luận giám định và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ, có đủ cơ sở xác định: Do có mâu thuẫn với anh Lê Hùng S từ trƣớc, nên vào trƣa ngày 05/02/2022, Cao Ngọc C kể lại sự việc bị anh Lê Hùng S đánh cho B (chƣa rõ nhân thân) nghe, B nói với C để B đánh giúp. Sau đó, C về phòng trọ lấy 01 cây ba chĩa, B mang theo 01 dao tự chế rồi đi tìm anh Lê Hùng S đánh. Khi đến bãi đất trống thuộc tổ G, khu phố T, phƣờng T, thành phố D, tỉnh Bình Dƣơng, anh Lê Hùng S thấy C cầm hung khí nên đã bỏ chạy, bị vấp ngã, C đuổi đến dùng cây ba chĩa đâm 01 cái vào mông của anh S, nhƣng không gây thƣơng tích. Do có nhiều ngƣời, C chạy ra đầu đƣờng cách vị trí anh S nằm khoảng 15 mét đứng cảnh giới và quay mặt về phía anh S thì thấy B dùng dao tự chế chém nhiều cái vào ngƣời anh S gây thƣơng tích với tỷ lệ tổn thƣơng cơ thể là 13%. Nhƣ vậy, hành vi của bị cáo Cao Ngọc C cùng với B dùng dao tự chế là “hung khí nguy hiểm” gây thƣơng tích cho bị hại đã đủ yếu tố cấu thành tội Cố ý gây thƣơng tích với tình tiết định khung “gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự. Cáo trạng số 126/CT-VKS ngày 22 tháng 12 năm 2023 và luận tội của Kiểm sát viên đề nghị đối với bị cáo là có căn cứ, đúng ngƣời đúng tội, đúng pháp luật.

Tính chất, mức độ của hành vi: Tội phạm do bị cáo thực hiện là nghiêm trọng, đã xâm phạm đến sức khỏe của bị hại đƣợc pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an tại địa phƣơng. Vì vậy, cần xử phạt bị cáo mức án tƣơng xứng với tính chất, mức độ tội phạm đã thực hiện, có xét đến các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo.

Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có.

Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình tố tụng, bị cáo đã thành khẩn khai báo; ăn năn hối cải; bị cáo là ngƣời có bệnh bị hạn chế khả năng nhận thức và điều khiển hành vi; gia đình bị cáo đã bồi thƣờng, khắc phục một phần thiệt hại cho bị cáo. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s, q khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

Về nhân thân: Bị cáo là ngƣời lao động có nhân thân tốt, chƣa có tiền án, tiền sự; tại thời điểm phạm tội bị cáo bị hạn chế khả năng nhận thức và điều khiển hành vi; bị cáo đang nuôi con nhỏ nên cũng cần xem xét khi quyết định hình phạt.

Trách nhiệm dân sự: Bị hại Lê Hùng S yêu cầu bị cáo bồi thƣờng chi phí điều trị, tổn thất tinh thần với số tiền 15.000.000 đồng. Ông Cao C1 đã bồi thƣờng thay bị cáo số tiền 4.000.000 đồng, số tiền còn lại 11.000.000 đồng cần buộc bị cáo có nghĩa vụ bồi thƣờng tiếp cho bị hại. Đối với số tiền ông Cao C1 đã bồi thƣờng thay bị cáo, tại phiên tòa ông C1 không yêu cầu bị cáo phải trả lại nên không xem xét.

Về hình phạt: Xét bị cáo có nhân thân tốt, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, khi phạm tội bị cáo có bệnh bị hạn chế khả năng nhận thức và điều khiển hành vi, bị cáo phải nuôi con nhỏ, do đó Hội đồng xét xử quyết định áp dụng Điều 54 Bộ luật Hình sự hạ khung hình phạt cho bị cáo cũng bảo đảm tính răn đe, giáo dục bị cáo và không làm ảnh hƣởng việc đấu tranh phòng chống tội phạm tại địa phƣơng, đồng thời tạo điều kiện cho bị cáo sớm tái hòa nhập cộng đồng để nuôi dạy con cái. Chấp nhận một phần ý kiến của ngƣời bào chữa đối với bị cáo.

Đối với B là ngƣời trực tiếp gây thƣơng tích cho anh Lê Hùng S, hiện chƣa rõ nhân thân, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố D tiếp tục xác minh, xử lý sau.

Đối với hung khí bị cáo và B sử dụng làm công cụ phạm tội, B đã vứt bỏ, cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố D đã tiến hành truy tìm vật chứng nhƣng không thu hồi đƣợc.

Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát đối với bị cáo là phù hợp nên chấp nhận.

Án phí sơ thẩm: Bị cáo phải nộp theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Cao Ngọc C phạm tội Cố ý gây thƣơng tích.

Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm s, q khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Cao Ngọc C 01 (một) năm 08 (tám) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 13/10/2023 (bị cáo đƣợc khấu trừ thời gian tạm giam từ ngày 24/02/2023 đến ngày 31/8/2023).

2. Trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 Bộ luật Hình sự; Điều 468, 584, 589 Bộ luật Dân sự; Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 19/9/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.

- Buộc bị cáo Cao Ngọc C có nghĩa vụ bồi thƣờng cho anh Lê Hùng S số tiền còn lại là 11.000.000 (Mƣời một triệu) đồng;

- Anh Lê Hùng S đƣợc nhận số tiền do bị cáo Cao Ngọc C đã bồi thƣờng là 4.000.000 (Bốn triệu) đồng theo biên lai thu số 0000979 ngày 19/01/2024 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng.

Kể từ ngày ngƣời đƣợc thi hành án có yêu cầu thi hành án, nếu ngƣời phải thi hành án chậm trả số tiền trên thì hàng tháng ngƣời phải thi hành án còn phải trả cho ngƣời đƣợc thi hành án khoản tiền lãi theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015 tƣơng ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành án.

3. Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a, khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thƣờng vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Bị cáo Cao Ngọc C phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm và 550.000 (năm trăm năm mƣơi nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm.

Bị cáo, ngƣời đại diện hợp pháp của bị cáo, ngƣời bào chữa cho bị cáo đƣợc quyền kháng cáo trong hạn 15 (mƣời lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt đƣợc quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (mƣời lăm) ngày, kể từ ngày nhận đƣợc bản án hoặc bản án đƣợc niêm yết theo quy định của pháp luật.

Bản án này đƣợc thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì ngƣời đƣợc thi hành án dân sự, ngƣời phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án đƣợc thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ