- Tranh chấp gì? án hình sự — "Hà Mạnh Trường - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? [1] Điều luật áp dụng:
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LÂM THAO TỈNH PHÚ THỌ ––––––––––––––– | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 23/2024/HS-ST Ngày: 15/3/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LÂM THAO, TỈNH PHÚ THỌ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hà Thanh Loan
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Gia Phượng và ông Hà Thanh Phong
- Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Duyên – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ tham gia phiên tòa: ông Phạm Mạnh Linh - Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 3 năm 2024, tại trụ Tòa án nhân dân huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 24/2024/HS-ST ngày 20/02/2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 23/2024/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 3 năm 2024 đối với bị cáo: Hà Mạnh T- Sinh ngày 28/02/1988 tại huyện L, tỉnh Phú Thọ. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay: Khu 2, thị trấn H, huyện L, tỉnh Phú Thọ. Giới tính: Nam.
Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không;
Trình độ học vấn: 9/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do
Bố đẻ: Hà Văn Q, sinh năm 1957; Mẹ đẻ: Đào Thị Đ, sinh năm 1959; Vợ, con: chưa có.
Tiền sự: Không; Tiền án: 03 - Tại Bản án số 12/2016/HSST ngày 10/3/2016 Tòa án nhân dân thị xã Phú Thọ, tỉnh Phú Thọ xử phạt Hà Mạnh T 30 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Ngày 03/2/2018, T đã chấp hành xong án phạt tù.
- Tại bản án số 82/2019/HSST ngày 14/6/2019 Tòa án nhân dân thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ xử phạt Hà Mạnh T 18 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo Khoản 1 Điều 173 BLHS. Trị giá tài sản trộm cắp là 2.102.500đ. T đã chấp hành xong hình phạt tù ngày 28/8/2020.
- Tại bản án số 42/2021/HSST ngày 21/8/2021 Tòa án nhân dân huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ xử phạt Hà Mạnh T 24 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo Khoản 1 Điều 173 BLHS. Trị giá tài sản trộm cắp là 800.00đ. T đã chấp hành xong hình phạt tù ngày 15/02/2023.
Nhân thân:
- Tại bản án số 68/2006/HSST ngày 29/9/2006, Tòa án nhân dân huyện Lâm Thao xử phạt T 30 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Quyết định số 481/QĐ-UBND ngày 16/3/2012 của Chủ tịch UBND huyện Lâm Thao đưa người nghiện ma túy vào cơ sở chữa bệnh, thời hạn 24 tháng, chấp hành xong ngày 27/01/2014.
- Quyết định số 26/QĐ-XPVPHC ngày 20/01/2016 của Công an huyện Lâm Thao xử phạt vi phạm hành chính đối với Hà Mạnh T về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy bằng hình thức cảnh cáo.
- Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 06/QĐ-XPHS ngày 28/01/2019 của Công an xã Tiên Kiên phạt Hà Mạnh T 1.500.000đ về hành vi trộm cắp tài sản.
Bị cáo bị bắt tạm giam kể từ ngày 05/12/2023; Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Phú Thọ. Có mặt tại phiên tòa.
+ Bị hại: Ông Đỗ Văn Q, sinh năm 1966
Địa chỉ: Khu 4, xã X, huyện L, tỉnh Phú Thọ (vắng mặt)
+ Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Anh Nguyễn Trung Th, sinh năm 1979
Địa chỉ: Khu 2, thị trấn H, huyện L, tỉnh Phú Thọ (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 08 giờ 00 phút ngày 04/12/2023, Hà Mạnh T, sinh năm 1988 ở khu 2, thị trấn H, huyện L, Phú Thọ nảy sinh ý định đi trộm cắp tài sản. T đi đến nhà ở của anh Nguyễn Trung Th, sinh năm 1979 ở khu 2, thị trấn H, huyện L, Phú Thọ hỏi mượn chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu sơn đỏ đen, số khung: RLHJC5214CY187179, số máy JC52E4262636, biển kiểm soát 19B1 – 110.51 của anh Th, T nói dối bảo anh Th là đi chợ. Anh Th đồng ý và giao xe cho T. Lúc này, T một mình điều khiển xe đến địa bàn xã X, huyện L mục đích tìm gia đình nào sơ hở trộm cắp tài sản. Đến khoảng 09 giờ cùng ngày, T đến trang trại của ông Đỗ Văn Q, sinh năm 1966, ở khu 4, xã X, huyện L. Quan sát bên trong trang trại không có người trông coi nên T dựng xe mô tô cách trang trại khoảng 30m, rồi đi bộ vào trong khu vực trang trại. Khi vào trong trang trại, T thấy có 01 con chó lông màu đen xám, mặt nhăn đang bị xích trong chuồng, sát cạnh lán trại. Lúc này, T nhổ đoạn gậy tre, màu nâu dài 105cm, đường kính 5cm tại hàng rào trang trại rồi đi vào chuồng chó, dùng tay phải cầm đoạn tre trên đập 03 nhát trúng vào đầu con chó khiến chó bất tỉnh, vùng đầu bị chảy máu. T lấy 01 bao tải xác rắn, màu xanh tại chuồng chó và nhấc con chó để vào trong bao tải rồi mang ra ngoài đường đến vị trí dựng xe mô tô thì bị ông Q phát hiện, bắt giữ. Lúc này, ông Nguyễn Hùng D, sinh năm 1957 ở khu 4, xã X, huyện L đi đến. Ông Q đã nhờ ông D trình báo sự việc trên đến Công an xã Xuân Huy. Sau đó, Công an xã Xuân Huy đến lập biên bản sự việc, tạm giữ: 01 con chó cái có đặc điểm lông màu đen xám, mặt nhăn đang đựng trong 01 bao tài xác rắn màu xanh, cùng 01 đoạn gậy bằng tre, màu nâu dài 105cm, đường kính 05cm và 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave biển kiểm soát 19B1 – 110.51. Công an xã Xuân Huy đã cân xác định con chó có trọng lượng 21kg, xác minh nhân thân ban đầu T có tiền án về tội Trộm cắp tài sản nên đã chuyển hồ sơ vụ việc cùng tang vật đến Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Lâm Thao giải quyết theo quy định.
Tại bản kết luận định giá tài sản trong tố tụng hình sự số 47/KL-HĐĐGTS ngày 04/12/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Lâm Thao kết luận: Trị giá 01 con chó cái có đặc điểm: màu lông đen xám, mặt nhăn trọng lượng 21 kg. trị giá thiệt hại: 1.683.000đ.
Tổng giá trị thiệt hại: 1.683.000đ (Một triệu sáu trăm tám mươi ba nghìn đồng).
Như vậy, giá trị thiệt hại tài sản T trộm cắp ngày 04/12/2023 dưới 2.000.000đ, tuy nhiên quá trình điều tra xác định T có 02 tiền án về tội Trộm cắp tài sản, 01 tiền án về tội Mua bán trái phép chất ma túy nên T phải chịu trách nhiệm hình sự về tội Trộm cắp tài sản quy định tại Khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Hà Mạnh T trình bày thừa nhận đã thực hiện hành vi trộm cắp tài sản như trên, không có lời bào chữa nào khác.
Bản cáo trạng số 07/CT-VKSLT ngày 20/02/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ truy tố bị cáo Hà Mạnh T về tội “Trộm cắp tài sản” theo Điểm b Khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa hôm nay Đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên nội dung cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố bị cáo Hà Mạnh T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Áp dụng Điểm b Khoản 1 Điều 173, điểm h, s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38 Bộ luật hình sự; xử phạt bị cáo Hà Mạnh T từ 15 tháng đến 18 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Đề nghị HĐXX căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự; Điểm a Khoản 2, Điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự;
Tịch thu tiêu hủy 01 bao tải xác rắn màu xanh; 01 đoạn gậy bằng tre, màu nâu, dài 105cm, đường kính 05 cm.
Xác nhận Cơ quan điều tra đã trả lại cho ông Đỗ Văn Q 01 con chó cái; đã trả lại cho anh Nguyễn Trung Th 01 xe mô tô Honda Wave biển kiểm soát 19B1 – 110.51 là hợp pháp.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Bị cáo nói lời sau cùng: Đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Lâm Thao tỉnh Phú Thọ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về nội dung:
+ Đánh giá các chứng cứ buộc tội đối với bị cáo: Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo thừa nhận:
Khoảng 09 giờ ngày 04/12/2023, Hà Mạnh T đã có hành vi trộm cắp tài sản là 01 con chó trị giá 1.683.000đ của gia đình ông Đỗ Văn Q ở khu 4, xã X, huyện L. Trị giá tài sản trộm cắp dưới 2.000.000đ nhưng T có 02 tiền án về tội trộm cắp tài sản chưa được xóa án tích.
Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hoàn toàn phù hợp với lời khai mà bị cáo khai trong quá trình điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng; phù hợp với thời gian, địa điểm xảy ra vụ án, các tài liệu khác có trong hồ sơ và đã được thẩm tra tại phiên tòa. Do đó có đủ căn cứ pháp lý để kết luận bị cáo Hà Mạnh T phạm tội “ Trộm cắp tài sản” quy định tại Điểm b Khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.
+ Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ của các bị cáo:
Bị cáo phạm tội với lỗi cố ý, mức độ phạm tội là ít nghiêm trọng nhưng hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội vì đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, gây bất bình trong nhân dân, làm mất trật tự trị an ở địa phương. Bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự và đạt độ tuổi theo quy định của pháp luật; có điều kiện để nhận thức về pháp luật, có sức khỏe nhưng không chịu lao động làm ăn lương thiện và rèn luyện bản thân. Vì vậy vụ án cần phải đưa ra xét xử kịp thời và nghiêm khắc nhằm giáo dục riêng đối với bị cáo và phòng ngừa chung.
Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo có 03 tiền án, trong đó có 02 tiền án về tội trộm cắp được xác định là tình tiết định tội do tài sản bị cáo trộm cắp tài sản giá trị dưới 2.000.000đ; Do đó bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng tái phạm được quy định tại Điểm h Khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ: quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Tài sản trộm cắp dưới 2.000.000đ và đã giao trả lại cho gia đình bị hại, gây thiệt hại không lớn. Vì vậy, bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Căn cứ tính chất hành vi phạm tội, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo thấy rằng: phải áp dụng hình phạt tù đối với bị cáo mới đảm bảo trừng trị, giáo dục riêng đối với bị cáo cũng như phòng ngừa trong xã hội.
+ Về hình phạt bổ sung: Tại Khoản 5 Điều 173 Bộ luật hình sự quy định: “ Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000đ đến 50.000.000đ”. Xét thấy, bị cáo không có tài sản gì, cũng không có chức vụ nghề nghiệp nào ổn định, vì vậy không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về vật chứng:
- Đối với 01 bao tải xác rắn màu xanh (của bị cáo), 01 đoạn gậy bằng tre, màu nâu, dài 105 cm, đường kính 05 cm (của ông Q – bị hại): bị cáo đã sử dụng làm công cụ, phương tiện phạm tội, hiện không còn giá trị sử dụng, ông Q không đề nghị nhận lại tài sản, xét tịch thu tiêu hủy.
- Đối với 01 con chó cái có đặc điểm màu lông đen xám, mặt nhăn: đây là tài sản của ông Q. Ngày 04/12/2023, cơ quan điều tra đã trả lại cho ông Q là phù hợp cần được xác nhận.
- Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave màu sơn đỏ đen, biển kiểm soát 19B1 – 110.51: đây là tài sản hợp pháp của anh Nguyễn Trung Th. Khi bị cáo T mượn xe của anh Th sử dụng, anh Th không biết T sử dụng vào việc thực hiện hành vi phạm tội, vì vậy ngày 19/01/2024 Cơ quan điều tra đã trả lại tài sản cho anh Th là phù hợp, cần được xác nhận.
Về trách nhiệm dân sự:
- Tài sản bị cáo Hà Mạnh T trộm cắp của ông Đỗ Văn Q là 01 con chó đã được định giá là 1.683.000đ. Quá trình điều tra, ông Q đã nhận lại tài sản và không yêu cầu gì khác về bồi thường trách nhiệm dân sự, vì vậy HĐXX không xem xét về trách nhiệm dân sự.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
[1] Điều luật áp dụng:
Căn cứ Điểm b Khoản 1 Điều 173; Điểm h, s khoản 1 Điều 51; Điểm h Khoản 1 Điều 52, Điều 38, Điểm a Khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự;
Căn cứ Điểm a Khoản 2, Điểm a khoản 3 Điều 106; Khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
[2] Về tội danh và mức hình phạt:
Tuyên bố bị cáo Hà Mạnh T phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.
Xử phạt bị cáo Hà Mạnh T 18 (mười tám) tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam ngày 05/12/2023.
[3] Về xử lý vật chứng:
Tịch thu tiêu hủy 01 bao tải xác rắn màu xanh; 01 gậy tre màu nâu, dài 105cm, đường kính 05cm.
(Vật chứng có tình trạng theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 01/3/2024 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Lâm Thao và Chi cục thi hành án dân sự huyện Lâm Thao)
Xác nhận ngày 04/12/2023 Công an xã Xuân Huy, huyện Lâm Thao đã giao trả cho ông Đỗ Văn Q 01 con chó cái lông màu đen xám, mặt nhăn theo biên bản bàn giao tang vật vụ việc (BL 82) là hợp pháp.
Xác nhận ngày 19/01/2024 Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Lâm Thao và giao trả cho anh Nguyễn Trung Th 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave màu sơn đỏ đen, biển kiểm soát 19B1 – 110.51 theo biên bản về việc trả tài sản (BL 102) là hợp pháp.
[4] Về án phí: Bị cáo Hà Mạnh T phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng chẵn) án phí hình sự sơ thẩm.
Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo T có mặt được quyền kháng cáo; Bị hại (ông Q), người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan (anh Th) vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày được giao nhận bản án hoặc bản án được niêm yết để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ xét xử phúc thẩm.
| Nơi nhận: - Bị cáo; Những người TGTT - VKSND huyện Lâm Thao; - VKSND tỉnh Phú Thọ; - Cơ quan THA hình sự; - Cơ quan THA dân sự h Lâm Thao - Công an huyện Lâm Thao; - Trại tạm giam Công an tỉnh Phú Thọ - Lưu hồ sơ, VP.ỘI | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hà Thanh Loan |