- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Minh Phụng - cố ý làm hư hỏng tài sản - phạm tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản (điều 178 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Trần Minh P phạm “Tội cố ý làm hư hỏng tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 178 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HỒNG NGỰ TỈNH ĐỒNG THÁP | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 23/2024/HS-ST Ngày: 05-6-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HỒNG NGỰ, TỈNH ĐỒNG THÁP
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Nông Phú.
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Ngô Thị Lệ Nga.
Ông Nguyễn Tuấn Lam.
- Thư ký phiên tòa: Ông Dương Thành Tâm, là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên tòa: Ông Phạm Châu Phong - Kiểm sát viên.
Ngày 05 tháng 6 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 17/2024/TLST-HS ngày 25 tháng 4 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 19/2024/QĐXXST-HS ngày 20 tháng 5 năm 2024 đối với bị cáo:
Trần Minh P, sinh ngày 10 tháng 01 năm 1994, tại Đồng Tháp. Nơi cư trú: Ấp P, xã P, huyện H, tỉnh Đồng Tháp; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn: 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn T và bà Nguyễn Thị K (chết); có vợ và 01 con; tiền án: Không; tiền sự: 01 (Quyết định Xử phạt vi phạm hành chính số 155/QĐ-XPHC ngày 19 tháng 12 năm 2023, Trưởng Công an huyện H, tỉnh Đồng Tháp, phạt tiền 4.000.000 đồng, về hành vi cố ý làm hư hỏng tài sản, chưa nộp phạt); nhân thân: Ngày 04/12/2009, UBND huyện H ra quyết định số 150/QĐ.XPHC-TCD đưa người có hành vi vi phạm pháp luật vào T. Ngày 08/7/2019, TAND huyện Hồng Ngự phạt 02 năm tù về tội cố ý gây thương tích, đã xóa án tích. Ngày 19/11/2021, Công an xã P, huyện H xử phạt vi phạm hành chính về hành vi trộm cắp tài sản, hết thời hiệu. Ngày 19/01/2022 bị Công an xã P, huyện H xử phạt vi phạm hành chính về hành vi Đánh bạc, hết thời hiệu; bị bắt, tạm giam: Ngày 12 tháng 3 năm 2024; có mặt.
- Bị hại: Ngô Văn L, sinh ngày 01/01/1993, nơi cư trú: Ấp T, xã H, huyện T, tỉnh Long An; vắng mặt.
- Người tham gia tố tụng khác:
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
1. Lâm Thanh S, sinh ngày 01/01/1977, nơi cư trú: Ấp P, xã P, huyện H, tỉnh Đồng Tháp; vắng mặt
2. Nguyễn Văn Q, sinh ngày 09/01/1985, nơi cư trú: Ấp P, xã P, huyện H, tỉnh Đồng Tháp; vắng mặt
Người làm chứng: Phạm Hữu Đ, Đinh Văn K1 (đều vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào ngày 19/12/2023, Trần Minh P bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi cố ý làm hư hỏng tài sản, với số tiền 4.000.000 đồng, chưa nộp phạt.
Khoảng 12 giờ 30 ngày 23/01/2024, anh Ngô Văn L điều khiển xe ô tô tải biển số 66C-114.31 đi cùng anh Đinh Văn K1 và anh Phạm Hữu Đ1, từ ấp P về ấp P, xã P, đến đoạn trước của nhà của Trần Minh P. Lúc này, P điều khiển xe mô tô loại xe Wave, màu đỏ chạy từ hướng ấp P A đến ấp P B, P thấy xe anh L chạy lên lề phía nhà P nên đã dùng xe mô tô của mình chặn ngang đầu xe ô tô tải, dùng lời lẽ thô tục với anh L, rồi dùng tay phải đập vỡ cửa kính bên trái của cabin ô tô tải. P tiếp tục chạy vô nhà lấy 01 (một) cây sắt dài khoảng 01 mét chạy ra, thì anh L điều khiển phương tiện đến Công an xã P A trình báo sự việc.
Vật chứng thu giữ: Nhiều mảnh kính vở li ti hình hạt lựu.
Tại Kết luận định giá tài sản số 10/KLHĐĐGTS-TTHS, ngày 01 tháng 02 năm 2024 của Hội đồng định giá tài sản tố tụng hình sự huyện H đã kết luận: 01 (một) tấm cửa kính bên trái của cabin xe ô tô tải, giá trị sửa chữa là 1.339.000 đồng.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại và người liên quan đã tự nguyện làm đơn không yêu cầu bồi thường.
Tại Cáo trạng truy tố số 22/CT-VKSHN ngày 23 tháng 4 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp; luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa, đề nghị: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 178, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự (sau đây viết tắt là BLHS), xử phạt bị cáo Trần Minh P từ 09 tháng đến 01 năm tù, về “Tội cố ý làm hư hỏng tài sản”. Vật chứng: Căn cứ Điều 47 BLHS, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy. Về dân sự: Không có yêu cầu.
Bị cáo P thống nhất đề nghị của Kiểm sát viên không có tranh luận. Lời nói sau cùng, bị cáo đã biết ăn năn, hối cải, xin giảm nhẹ hình phạt để sớm về nuôi cha và vợ con.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng quy định về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo khai nhận hành vi phạm tội phù hợp với quy định của pháp luật. Bị cáo và người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.
Tại phiên tòa, bị cáo Trần Minh P khai nhận hành vi của mình như nội dung Cáo trạng, phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ thu thập trong hồ sơ vụ án, chứng minh được:
Bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi cố ý làm hư hỏng tài sản người khác chưa hết thời hạn được coi là chưa bị xử lý vi phạm hành chính theo Điều 7 Luật xử lý vi phạm hành chính, tiếp tục thực hiện hành vi cố ý làm hư hỏng tài sản là tấm kính cửa xe tải trị giá 1.339.000 đồng của bị hại L. Do đó, hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành “Tội cố ý làm hư hỏng tài sản”.
Khoản 1 Điều 178 của BLHS, quy định: “Người nào hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:
a) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về một trong các hành vi quy định tại Điều này mà còn vi phạm;…
5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm…”
Như vậy, Viện kiểm sát truy tố bị cáo P là có căn cứ đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hình phạt đối với bị cáo:
Bị cáo nhận thức được hậu quả do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác. Tài sản của cá nhân, tổ chức được pháp luật tôn trọng, bảo vệ, không ai được quyền xâm phạm trái pháp luật, nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện tội phạm. Khi bị xử phạt vi phạm hành chính, bị cáo không thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính. Do đó, cần phải có mức hình phạt tương xứng, cần thiết cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhất định nhằm giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt và có tác dụng phòng ngừa chung.
Bị cáo không có tiền án, có 01 tiền sự làm căn cứ cấu thành tội phạm. Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân xấu, từng bị đưa vào Trường G, bị xử phạt tù có thời hạn, nhiều lần bị xử phạt vi phạm hành chính.
Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.
Bị cáo có tình tiết giảm nhẹ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, nên áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS để giảm nhẹ cho bị cáo khi quyết định hình phạt.
Về hình phạt bổ sung: Bị cáo làm thuê, không có thu nhập không ổn định nên không áp dụng hình phạt tiền bổ sung.
Về trách nhiệm dân sự: Không có yêu cầu nên không xem xét.
Về vật chứng: Viện kiểm sát đề nghị tịch thu tiêu hủy là phù hợp quy định tại khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 178, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự,
Tuyên bố: Bị cáo Trần Minh P phạm “Tội cố ý làm hư hỏng tài sản”.
Xử phạt bị cáo Trần Minh P 01 (một) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 12 tháng 3 năm 2024.
2. Căn cứ khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy nhiều mảnh kính vỡ li ti hình hạt lựu. Vật chứng do Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp đang quản lý theo Biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 25 tháng 4 năm 2024.
3. Về án phí, căn cứ vào khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Trần Minh P phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo đối với bản án: Bị cáo, bị hại có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 05 tháng 6 năm 2024). Đối với bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày họ nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
| Nơi nhận: -Bị cáo, bị hại (nếu có); - Viện kiểm sát, Cơ quan điều tra cùng cấp; - Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp; - Cơ quan thi hành án hình sự có thẩm quyền; - Nơi đang giam giữ bị cáo (nếu có); - Cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền; - Cơ quan, tổ chức, chính quyền địa phương nơi giám sát, giáo dục người được hưởng án treo (nếu có); - Lưu hồ sơ vụ án, Văn phòng lưu trữ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Nông Phú |