vanban.org

Bản án 23/2024/HS-PT — Hình sự

TAND tỉnh Thái Bình Tuyên án 02/05/2024 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 02/05/2024 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Vũ Minh Th phạm tội “Cướp tài sản”.

Về Hình phạt: Áp dụng điểm d khoản 2 Điều 168; Điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58, Điều 38; Điều 50 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Vũ Minh Th 07 ( bảy) năm 06 ( sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ 14/4/2023. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Về … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Vũ Minh Th - phạm tội cướp tài sản (điều 168 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Vũ Minh Th phạm tội “Cướp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự xử phạt; Điều 168 Bộ luật Hình sự xử phạt; Điều 17 Bộ luật Hình sự xử phạt
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH THÁI BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 23/2024/HS - PT
Ngày 21 tháng 3 năm 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Minh Huệ

Các Thẩm phán: Ông Ngô Thế Tương và Bà Đỗ Thị Hà

- Thư ký phiên tòa: Ông Trần T Chương - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình tham gia phiên tòa: Ông Đỗ Xuân Trường - Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 3 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 20/2024/TLPT-HS ngày 06 tháng 02 năm 2024 do có kháng cáo của bị cáo Vũ Minh Th, đối với bản án hình sự sơ thẩm số 148/2023/HS-ST ngày 29/12/2023 của Toà án nhân dân huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 29/2024/QĐXXPT-HS ngày 07 tháng 3 năm 2024.

- Bị cáo kháng cáo:

Vũ Minh Th, sinh năm 1994 tại xã C, huyện Đ, tỉnh Thái Bình; Nơi cư trú: thôn M, xã C, huyện Đ, tỉnh Thái Bình; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Vũ Văn Th và bà Nguyễn Thị S; vợ Vũ Thị Thuý Ng, chưa có con; Tiền án, tiền sự: không.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 14/4/2023 đến ngày 23/4/2023 chuyển tạm giam đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam công an tỉnh Thái Bình, bị cáo được trích xuất, có mặt.

Trong vụ án còn có bị cáo Bùi Sơn T không kháng cáo và không bị kháng nghị, bị hại anh Vũ Đình T không liên quan đến kháng cáo nên Toà án không triệu tập.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Bị cáo Vũ Minh Th và bị cáo Bùi Sơn Tquen biết nhau do cùng thuê trọ tại khu vực phường L, quận A, TP Hải Phòng. Khoảng tháng 7 năm 2020, Tnhờ Th bán hộ chiếc xe mô tô Vison. Th sử dụng tài khoản Facebook với tên Đôn Ky hô tê đăng bài bán xe trên nhóm mua đồ cũ tại TP Hải Phòng, anh Vũ Đình T sử dụng tài khoản Facebook với tên Đốc tơ T nhắn tin hỏi Th mua xe Vison trên, hai bên đã giao dịch mua bán xong.

Trưa ngày 15/9/2020, Th nhắn tin cho anh T nói có xe muốn bán và gửi hình ảnh xe mô tô nhãn hiệu SH của Tcho anh T, anh T xem xe trả giá 22.000.000 đồng, hai bên thoả thuận sẽ gặp và giao dịch mua bán xe vào chiều cùng ngày tại cầu Mỹ Hà, thị trấn Quỳnh Côi, huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình. Sau khi trao đổi xong với anh T, Th và Tthống nhất sau khi anh T giao tiền, cả hai bỏ chạy, không giao xe cho anh T.

Tđiều khiển xe mô tô SH màu đen, Th điều khiển xe mô tô Airblade của Tvà mang theo 01 chìa khoá dạng smartkey bị hỏng, 01 dao rọc giấy màu vàng đi từ nhà trọ sang thị trấn Q, huyện Quỳnh Phụ. Khi đi đến khu vực cầu Nghìn, thị trấn An Bài, Th dùng điện thoại gọi qua ứng dụng Mesenger bảo anh T đến chỗ hẹn. Khoảng hơn 18 giờ ngày 15/9/2020, Th, Tgặp anh T tại khu vực cầu Mỹ Hà, anh T dùng pin điện thoại kiểm tra xe trong khoảng 01-02 phút rồi điều khiển xe mô tô SH chở Tngồi sau, đi trên đường Nguyễn Du, thuộc tổ 4, thị trấn Quỳnh Côi, huyện Quỳnh Phụ, Th điều khiển xe mô tô Airblade đi theo sau. Sau khi đi xe để kiểm tra, anh T dừng xe sát vỉa hè, trước cổng trường tiểu học Quỳnh Côi, Tvẫn ngồi trên xe, Th điều khiển xe dừng phía trước đầu xe SH. Tiếp đó anh T đi bộ đến chỗ Th, Th đưa cho anh T 01 chìa khoá điều khiển từ xa đã hỏng, anh T đưa cho Th 22.000.000 đồng, Th cất tiền vào túi quần phải phía trước rồi điều khiển xe bỏ chạy. Thấy vậy anh T đi về phía Tthì Tnổ máy xe bỏ chạy nên anh T một tay giữ đầu xe, một tay bóp phanh, giằng co với Tùng. Do không thấy Tchạy theo mình nên Th điều khiển xe quay lại đâm xe về phía anh T để Tphóng xe đi nhưng không trúng; Th dừng xe, tay phải rút dao rọc giấy, đẩy phần lưỡi dao ra hướng mũi dao đâm khua về phía anh T khiến anh T hoảng sợ buông tay khỏi xe Tùng, Tvà Th điều khiển xe tăng ga bỏ chạy về Hải Phòng, chia nhau số tiền 22.000.000 đồng đã chiếm đoạt được. Sau khi sự việc xảy ra anh T đi làm xa và do dịch covid 19 nên ngày 12/4/2023 mới trình báo cơ quan công an. Ngày 14/4/2023 bị cáo Vũ Minh Th ra đầu thú.

Bản án hình sự sơ thẩm số 148/2023/HS-ST ngày 29/12/2023 của Toà án nhân dân huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình đã quyết định:

*Về tội danh: Tuyên bố:bị cáo Vũ Minh Th và bị cáo Bùi Sơn Tphạm tội “Cướp tài sản”.

*Về Hình phạt:

- Áp dụng điểm d khoản 2 Điều 168; Điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58, Điều 38; Điều 50 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Vũ Minh Th 07 năm 06 tháng tù, thời hạn tù được tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ 14/4/2023.

Áp dụng điểm d khoản 2 Điều 168, Điều 17, Điều 58, Điều 38, Điều 50 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Bùi Sơn Tùng 08 năm 06 tháng tù. Áp dụng khoản 1 Điều 56, khoản 1 Điều 55 Bộ luật Hình sự, tổng hợp hình phạt tại Bản án số 45/2022/HSST ngày 25/8/2022 của Toà án nhân dân quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng xử phạt 03 năm tù về tội “ Gây rối trật tự công cộng”, bị cáo Bùi Sơn Tphải chịu hình phạt chung của 02 bản án là 11 năm 06 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày chấp hành án phạt tù của Bản án số 45/2022/HSST ngày 25/8/2022 của Toà án nhân dân quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng, không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Ngoài ra án sơ thẩm còn tuyên án phí và quyền kháng cáo.

Ngày 03/01/2024 bị cáo Vũ Minh Th kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

Tại phiên toà phúc thẩm bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình như bản án sơ thẩm và giữ nguyên kháng cáo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình sau khi phân tích toàn bộ nội dung vụ án, xét tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội của bị cáo, xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, xem xét nội dung kháng cáo của bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử: áp dụng Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự, không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Vũ Minh Th, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Bị cáo nói lời sau cùng: sau khi phạm tội bị cáo ra đầu thú, thành khẩn khai báo, đã tự nguyện khắc phục hậu quả và bị hại có đơn đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận kháng cáo của bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tính hợp pháp của đơn kháng cáo: kháng cáo của bị cáo Vũ Minh Th làm trong thời hạn luật định nên được xét xử theo thủ tục phúc thẩm.

Xét hành vi phạm tội của bị cáo: tại phiên tòa, bị cáo Vũ Minh Th khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, nên có cơ sở xác định: khoảng 18 giờ ngày 15/9/2020 tại khu vực trước cổng trường tiểu học thị trấn Quỳnh Côi, huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình, bị cáo Vũ Minh Th và bị cáo Bùi Sơn Tđã giả dối giao dịch bán xe mô tô cho anh T để anh T đưa 22.000.000 đồng tiền mua xe cho Th. Sau đó Th điều khiển xe đâm vào anh T, dùng dao đe doạ, uy hiếp tinh thần của bị hại làm anh T sợ phải buông tay để Tlái xe mô tô vừa thoả thuận mua bỏ chạy, chiếm đoạt toàn bộ số tiền trên. Vì vậy Toà án sơ thẩm đã xử phạt bị cáo T và bị cáo Tvề tội “ Cướp tài sản” theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 168 Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Xét kháng cáo của bị cáo Th thì thấy: hành vi phạm tội của bị cáo rất nghiêm trọng không chỉ xâm phạm quyền sở hữu tài sản được pháp luật bảo vệ, mà còn gây nguy hiểm đến tính mạng của bị hại. Bị cáo Th là người thực hành tích cực, điều khiển xe đâm bị hại, dùng dao do bị cáo tự chuẩn bị từ trước khống chế, đe doạ anh T. Toà án cấp sơ thẩm áp dụng các tình tiết giảm nhẹ thành khẩn khai báo, tự nguyện bồi thường toàn bộ số tiền đã chiếm đoạt, bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo và đầu thú quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự để xử phạt bị cáo mức án 07 năm 06 tháng tù là tương xứng với hành vi, mức độ nguy hiểm của tội phạm bị cáo đã thực hiện. Tại phiên toà phúc thẩm bị cáo không đưa ra được tài liệu, chứng cứ nào mới làm căn cứ xem xét giảm nhẹ hình phạt, do vậy áp dụng Điều 356 Bộ luật Tố tụng Hình sự, không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Vũ Minh Th, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Về án phí: do kháng cáo của bị cáo không được chấp nhận nên bị cáo Vũ Minh Th phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 356 Bộ luật Tố tụng Hình sự, không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Vũ Minh Th, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Vũ Minh Th phạm tội “Cướp tài sản”.

2.Về Hình phạt: Áp dụng điểm d khoản 2 Điều 168; Điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58, Điều 38; Điều 50 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Vũ Minh Th 07 ( bảy) năm 06 ( sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ 14/4/2023. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

3. Về án phí phúc thẩm: căn cứ Điều 23 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí Tòa án: bị cáo Vũ Minh Th phải chịu 200.000 ( hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự phúc thẩm.

3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án 21 tháng 3 năm 2024.

Cỡ chữ