vanban.org

Bản án 23/2024/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn;

Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Kiều L được ly hôn ông Trương Thành L1. Về con chung: Giao con chung Trương Anh T, sinh ngày 15/11/2018 cho bà Nguyễn Thị Kiều L trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến tuổi trưởng thành. Ông Trương Thành L1 không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn;
  • Căn cứ chính? Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ NHA TRANG
TỈNH KHÁNH HÒA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 23/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 29/02/2024.
V/v tranh chấp:“Ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NHA TRANG, TỈNH KHÁNH HÒA

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Lê Viên

- Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Lý

Ông Lưu Văn Có

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Hồng Phương Thảo – Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Cẩm Nhung - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 02 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 1107/2023/TLST-HNGĐ ngày 01 tháng 11 năm 2023 về tranh chấp “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 05/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 10/01/2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 05/2024/QĐST-HNGĐ ngày 26/01/2024, số 10/2024/QĐST-HNGĐ ngày 05/02/2024 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Kiều L, sinh năm: 1990

Địa chỉ: 4 L, phường P, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa. Vắng mặt.

Bị đơn: Ông Trương Thành L1, sinh năm: 1991

Địa chỉ: 4 L, phường P, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Nguyên đơn – Bà Nguyễn Thị Kiều L trình bày: Bà L và ông Trương Thành L1 tự nguyện kết hôn, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường P, thành phố N năm 2018.

Trong quá trình chung sống, do ông L1 hay uống rượu bia, tham gia cờ bạc, cá độ bóng đá dẫn tới nợ nần, không có trách nhiệm với gia đình, vợ con làm cho quan hệ vợ chồng trở nên căng thẳng. Mặc dù bà L và gia đình đã nhiều lần khuyên nhủ nhưng ông L1 vẫn không thay đổi. Nay tình cảm vợ chồng không còn nên bà L yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông L1.

- Về con chung: Bà L và ông L1 có một con chung là Trương Anh T, sinh ngày 15/11/2018. Ly hôn, bà L đề nghị được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung Trương Anh T; không yêu cầu ông L1 cấp dưỡng nuôi con chung.

- Về tài sản chung và nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn, ông Trương Thành L1 trình bày: Ông L1 thừa nhận, ông và bà Nguyễn Thị Kiều L tự nguyện đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường P, thành phố N năm 2018 như bà L đã trình bày. Trong quá trình chung sống, ông bà có xảy ra mâu thuẫn nhưng ông L1 có thể giải quyết được nên nay bà L yêu cầu ly hôn, ông không đồng ý.

- Về con chung: Ông L1 bà L có một con chung là Trương Anh T, sinh ngày 15/11/2018. Trường hợp Tòa án giải quyết cho bà L ly hôn, ông L1 yêu cầu được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung Trương Anh T, không yêu cầu bà L cấp dưỡng nuôi con chung.

- Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nha Trang đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ các Điều 51, 53, 56, 58, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và Gia đình, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, bà Nguyễn Thị Kiều L được ly hôn với ông Trương Thành L1; giao con chung Trương Anh T, sinh ngày 15/11/2018 cho bà L trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến khi con chung đủ 18 tuổi, ông L1 không phải cấp dưỡng nuôi con chung; tài sản chung và nợ chung: Không xem xét giải quyết; các đương sự chịu án phí theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

. Về thủ tục tố tụng:

Quan hệ pháp luật:

Bà Nguyễn Thị Kiều L khởi kiện yêu cầu ly hôn ông Trương Thành L1 nên tranh chấp giữa bà L và ông L1 là tranh chấp về ly hôn theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự.

. Thẩm quyền giải quyết tranh chấp:

Bị đơn ông Trương Thành L1 hiện nay cư trú tại 4 L, phường P, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa; căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự; vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của nhân dân thành phố N.

. Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Kiều L xác định, bà và ông Trương Thành L1 tự nguyện kết hôn, có đăng ký kết hôn và đã được Ủy ban nhân dân phường P, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 84 ngày 04/5/2018, đây là hôn nhân hợp pháp.

Bà L cho rằng, quá trình chung sống với nhau, do ông L1 hay uống rượu bia, tham gia cờ bạc, cá độ bóng đá dẫn tới nợ nần, không có trách nhiệm với gia đình, vợ con làm cho quan hệ vợ chồng trở nên căng thẳng. Mặc dù bà L và gia đình đã nhiều lần khuyên nhủ nhưng ông L1 vẫn không thay đổi, đời sống hôn nhân không có hạnh phúc, bà L không thể tiếp tục chung sống với ông L1. Ông L1 mặc dù không đồng ý ly hôn vì ông sẽ giải quyết được các mâu thuẫn giữa ông và bà L. Tuy nhiên, ông L1 không có mặt khi Tòa án hòa giải cũng vắng mặt tại phiên tòa thể hiện ông L1 không có thiện chí hàn gắn tình cảm với bà L. Như vậy, Hội đồng xét xử có cơ sở để xác định, tình trạng hôn nhân giữa bà L và ông L1 đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, yêu cầu ly hôn của bà L là có căn cứ, phù hợp với quy định của pháp luật nên chấp nhận để bà L được ly hôn ông L1.

. Về con chung: Bà Nguyễn Thị Kiều L, ông Trương Thành L1 có một con chung là Trương Anh T, sinh ngày 15/11/2018. Trường hợp Tòa án chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà L, ông L1, bà L đều có nguyện vọng được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung. Tuy nhiên, cháu T hiện nay còn nhỏ, cần sự chăm sóc của người mẹ nên Hội đồng xét xử giao con chung Trương Anh T cho bà L trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến tuổi trưởng thành. Ông L1 không phải cấp dưỡng nuôi con chung do bà L không yêu cầu.

. Tài sản chung và nợ chung: Bà Nguyễn Thị Kiều L, ông Trương Thành L1 xác định vợ chồng không có tài sản chung và nợ chung nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

. Về án phí: Bà Nguyễn Thị Kiều L phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các Điều 28, 35, 39, 147, 227, 228, 266, 271, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, các Điều 57, 58, 81, 82, 83, 84, Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án;

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn;

1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Kiều L được ly hôn ông Trương Thành L1.

2. Về con chung: Giao con chung Trương Anh T, sinh ngày 15/11/2018 cho bà Nguyễn Thị Kiều L trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến tuổi trưởng thành. Ông Trương Thành L1 không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Người không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom con, không ai được cản trở người đó thực hiện quyền này.

Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con cũng như việc cấp dưỡng nuôi con chung.

3. Tài sản chung và nợ chung: Không xem xét, giải quyết.

4. Về án phí: Bà Nguyễn Thị Kiều L phải chịu 300.000đ án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm nhưng được trừ vào 300.000đ tạm ứng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm đã nộp theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2023/0000316 ngày 01 tháng 11 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Nha Trang, bà L đã nộp đủ án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Quyền kháng cáo: Đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.

THẨM PHÁN

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Cỡ chữ