- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn vì mâu thuẫn gia đình"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận đơn yêu cầu khởi kiện của bà Chung Ngọc H.
- Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BÀ RỊA TỈNH BÀ RỊA –VŨNG TÀU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 23/2024/HNGĐ-ST Ngày: 20-5-2024 V/v:“Tranh chấp quan hệ hôn nhân, nuôi con chung” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BÀ RỊA, TỈNH BÀ RỊA –VŨNG TÀU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngọc Anh
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Nguyễn Thị Tuyết Hồng
2. Bà Nguyễn Thị Thọ
- Thư ký phiên toà: Bà Phùng Nữ Lệ Chi - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bà Rịa.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bà Rịa tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Hải - Kiểm sát viên
Ngày 20 tháng 5 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bà Rịa, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu xét xử công khai vụ án Hôn nhân gia đình thụ lý số 25/2024/TLST- HNGĐ ngày 24 tháng 01 năm 2024 về “Tranh chấp quan hệ hôn nhân, nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 10/2024/QĐST-HNGĐ ngày 17-4-2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 15/2024/QĐST-HNGĐ ngày 03-5-2024, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Chung Ngọc H, sinh năm 1982 (có mặt);
Trú tại: Tổ 22, ấp Bắc 1, xã Hòa Long, thành phố Bà Rịa, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.
Bị đơn: Ông Nguyễn Thành Q, sinh năm 1981 (vắng mặt);
Trú tại: Tổ 22, ấp Bắc 1, xã Hòa Long, thành phố Bà Rịa, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.
Người làm chứng: Bà Nguyễn Ngọc H, sinh năm 1999 (vắng mặt);
Trú tại: Tổ 22, ấp Bắc 1, xã Hòa Long, thành phố Bà Rịa, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
[1]. Tại đơn khởi kiện ngày 11 tháng 01 năm 2024 và quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Chung Ngọc H trình bày:
Bà Chung Ngọc H và ông Nguyễn Thành Q chính thức chung sống với nhau và đăng ký kết hôn tại UBND xã Hòa Long, thành phố Bà Rịa, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu ngày 16/4/2001. Sau khi kết hôn ông bà có thời gian chung sống hạnh phúc và sinh được 03 con chung, tuy nhiên khoảng 6 năm trở lại đây giữa ông bà nảy sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do ông Q ngoại tình nhiều lần, gây nợ nần. Ông Q đã bỏ đi làm ăn riêng không còn sống chung với mẹ con bà H nữa, không quan tâm gì đến các con chung. Bà và ông Q đã ly thân 6 năm nay, mỗi người lo liệu cuộc sống riêng, không còn quan tâm chăm sóc gì cho nhau. Nay thấy rằng tình cảm không còn, vợ chồng không thể tiếp tục sống chung nên bà H có đơn yêu cầu ly hôn với ông Q.
Thời gian Tòa án giải quyết vụ án, ông Q vẫn thường đi về nhà và biết rõ Tòa án mời ra Tòa để giải quyết việc ly hôn nhưng nhiều lần ông Q không đến Tòa để tham gia hòa giải kéo dài thời gian gây ảnh hưởng đến công việc và cuộc sống của bà. Bà và ông Q có gặp nhau nhưng vợ chồng không ai có thiện chí muốn hàn gắn, tình cảm thực sự không còn nên bà vẫn yêu cầu được ly hôn với ông Q.
Về con chung: Bà H và ông Q có 03 con chung là Nguyễn Ngọc H, sinh ngày 10/10/1999, Nguyễn Thanh T, sinh ngày 12/3/2006 và Nguyễn Khánh L, sinh ngày 26/01/2014. Các con Nguyễn Ngọc H và Nguyễn Thanh T đã trưởng thành nên không yêu cầu giải quyết. Theo nguyện vọng của cháu Linh, bà H yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung là Nguyễn Khánh L, sinh ngày 26/01/2014 đến tuổi trưởng thành và không yêu cầu ông Q cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, nợ chung: Bà H xác nhận không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại phiên tòa, bà H xác định mâu thuẫn đã quá căng thẳng, tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt nên vẫn giữ nguyên yêu cầu xin ly hôn với ông Q.
Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã nhiều lần tiến hành triệu tập đến Toà làm việc nhưng ông Q vắng mặt không có lý do nên Tòa án không thể thu thập được lời khai của ông Q.
Để có cơ sở giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành xác minh nơi cư trú của ông Q và tình trạng mâu thuẫn giữa bà H và ông Q, kết quả xác định được ông Nguyễn Thành Q có đăng ký hộ khẩu thường trú tại: Tổ 22, ấp Bắc 1, xã Hòa Long, thành phố Bà Rịa, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu. Hiện ông Q và bà H không còn chung sống với nhau nữa. Đồng thời, Tòa án cũng tiến hành lấy lời khai người làm chứng để xác định tình trạng mâu thuẫn giữa ông Q và bà H.
[2]. Về ý kiến của người làm chứng chị Nguyễn Ngọc H:
Chị Nguyễn Ngọc H là con ruột của bà Chung Ngọc H và ông Nguyễn Thành Q. Hiện chị H đã lập gia đình riêng nhưng ở gần nên vẫn thường xuyên qua lại nhà cha mẹ. Chị H cho biết chị là con sống chung trong gia đình nên biết và có chứng kiến mâu thuẫn giữa cha và mẹ. Từ khi còn nhỏ chị đã chứng kiến giữa ba mẹ thường xảy ra mâu thuẫn, cụ thể là ông Q có quan hệ bên ngoài với người phụ nữ khác nên ba mẹ gây gổ, cãi vã lẫn nhau. Khoảng 6 năm nay thì ba mẹ không sống chung với nhau nữa, ba bỏ đi ra ngoài sống riêng, chỉ thỉnh thoảng mới về thăm con. Tình trạng này xảy ra trong suốt một thời gian dài và kéo dài cho tới nay. Chị H thấy ba mẹ không còn sống chung với nhau, không có tình cảm, không có sự chăm sóc chia sẻ với nhau, ba không phụ giúp mẹ để nuôi các con, cuộc sống gia đình hoàn toàn do mẹ lo liệu.
Với tư cách là người làm chứng chị H chỉ khai những gì chị biết về cuộc sống chung giữa ông Q và bà H. Chị H cam kết lời khai của mình là hoàn toàn đúng sự thật.
[3]. Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bà Rịa tham gia phiên tòa:
Qua nghiên cứu, đánh giá các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa dân sự sơ thẩm, đại diện Viện kiểm sát có ý kiến như sau:
Việc tuân theo pháp luật tố tụng:
- Việc tuân theo pháp luật tố tụng trong thời gian chuẩn bị xét xử, Thẩm phán đã thực hiện đúng, đầy đủ về quan hệ tranh chấp, thẩm quyền và thời hạn xét xử theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 và điểm a khoản 1 Điều 203 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Thẩm phán xác định tư cách đương sự tham gia tố tụng đúng theo quy định tại Điều 68 Bộ luật tố tụng dân sự. Về xác minh, thu thập chứng cứ, giao nhận chứng cứ đúng theo quy định từ các Điều 93 đến Điều 98 Bộ luật tố tụng dân sự.
- Đối với hội đồng xét xử tại phiên tòa hôm nay đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật tố tụng, thư ký đã thực hiện đúng nhiệm vụ tại phiên tòa.
- Nguyên đơn đã chấp hành tốt các quy định tại Điều 71, 72 của Bộ luật tố tụng dân sự. Riêng bị đơn chưa chấp hành các quy định của pháp luật về tố tụng.
Về nội dung vụ án: Từ các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, lời trình bày của nguyên đơn, người làm chứng cho thấy mâu thuẫn vợ chồng giữa ông Q và bà H đã trầm trọng, vợ chồng đã ly thân không còn sống chung với nhau, tình cảm vợ chồng không thể hàn gắn, Hội đồng xét xử đã phân tích động viên nhưng bà H vẫn cương quyết yêu cầu được ly hôn. Do đó, Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử tuyên xử: Chấp nhận đơn yêu cầu khởi kiện của bà H về việc ly hôn với ông Q; về con chung: Giao con chung là Nguyễn Khánh L, sinh ngày 26/01/2014 cho bà H trực tiếp nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành; về tài sản chung, nợ chung: không yêu cầu; về án phí: Bà H phải nộp án phí theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào ý kiến trình bày của đương sự tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
. Về thủ tục tố tụng: bà Chung Ngọc H có đơn xin ly hôn, ông Nguyễn Thành Q có đăng ký hộ khẩu thường trú tại thành phố Bà Rịa nên tranh chấp nói trên được xác định là tranh chấp về ly hôn thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Bà Rịa, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Ông Nguyễn Thành Q đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt nên Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt ông Q theo quy định tại Điều 227 và Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.
. Xét về quan hệ hôn nhân: Quan hệ hôn nhân giữa ông Nguyễn Thành Q và bà Chung Ngọc H là hôn nhân tự nguyện và có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật. Quá trình chung sống đã xảy ra nhiều mâu thuẫn nguyên nhân là do tính tình không hòa hợp, bất đồng quan điểm sống, ông Q có quan hệ bên ngoài với người phụ nữ khác dẫn đến vợ chồng thường xuyên xảy ra cãi vã, xung đột. Bà H đã nhiều lần cố gắng để vợ chồng hàn gắn chung sống cùng chăm lo nuôi dạy con chung nhưng không có kết quả mà mâu thuẫn vợ chồng ngày càng căng thẳng hơn. Khoảng 6 năm nay ông Q và bà H đã ly thân, không còn chung sống, tình cảm không còn, mỗi người tự lo cuộc sống riêng, không ai quan tâm đến ai. Tòa án cũng đã nhiều lần vận động hòa giải nhưng bà H vẫn kiên quyết yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Q vì theo bà giữa ông bà không còn tình cảm, mâu thuẫn trầm trọng kéo dài từ lâu nên không thể hàn gắn.
Bản thân ông Q biết rõ việc bà H yêu cầu ly hôn nhưng không đến Tòa làm việc để trình bày ý kiến về yêu cầu xin ly hôn của bà H mà bỏ mặc, điều đó thể hiện ông Q không có thiện chí hàn gắn tình cảm vợ chồng. Căn cứ kết quả xác minh nơi vợ chồng ông Q bà H sinh sống và lời khai của người làm chứng là con ruột của ông bà cũng xác định được mâu thuẫn giữa ông Q bà H là có thật, cả hai không còn chung sống cùng nhau. Từ những cơ sở đó, Hội đồng xét xử xét thấy lời khai của bà H là có căn cứ, mâu thuẫn giữa ông Q bà H là có thật và trầm trọng, dẫn tới cuộc sống chung không có hạnh phúc, vợ chồng không còn tình cảm, mục đích hôn nhân không đạt, đời sống chung không thể kéo dài. Vì vậy, cần áp dụng Điều 56 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014 tuyên xử chấp nhận yêu cầu của bà H về việc ly hôn với ông Q.
. Về con chung: Quá trình chung sống bà H và ông Q có 03 con chung là Nguyễn Ngọc H, sinh ngày 10/10/1999, Nguyễn Thanh T, sinh ngày 12/3/2006 và Nguyễn Khánh L, sinh ngày 26/01/2014. Các con Nguyễn Ngọc Hương và Nguyễn Thanh Tâm đã trưởng thành nên không yêu cầu giải quyết. Hiện cháu Linh đang sống chung với bà H. Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, bà H có nguyện vọng trực tiếp nuôi dưỡng con chung. Lời khai của cháu Linh cũng thể hiện nguyện vọng được sống chung với mẹ đến tuổi trưởng thành. Do vậy, theo nguyện vọng của cháu L và để đảm bảo cho cháu điều kiện sống tốt nhất, xét thấy cần chấp nhận yêu cầu của bà H, giao cháu Nguyễn Khánh L, sinh ngày 26/01/2014 cho bà H trực tiếp nuôi duỡng đến tuổi trưởng thành (18 tuổi). Việc bà H không yêu cầu ông Q cấp dưỡng nuôi con là tự nguyện nên cần công nhận.
. Về tài sản chung, nợ chung: Bà H xác nhận không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
. Về án phí: Bà H phải nộp án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng:
- Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự;
- Điều 56, 57, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
- Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc Hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án;
Tuyên xử:
1. Chấp nhận đơn yêu cầu khởi kiện của bà Chung Ngọc H.
+ Về quan hệ hôn nhân: Bà Chung Ngọc H được ly hôn với ông Nguyễn Thành Q.
+ Về con chung: Bà Chung Ngọc H và ông Nguyễn Thành Q có 03 con chung là Nguyễn Ngọc H, sinh ngày 10/10/1999, Nguyễn Thanh T, sinh ngày 12/3/2006 và Nguyễn Khánh L, sinh ngày 26/01/2014. Các con Nguyễn Ngọc H và Nguyễn Thanh T đã trưởng thành nên không yêu cầu giải quyết. Theo nguyện vọng của cháu L, bà Chung Ngọc H được quyền trực tiếp nuôi dưỡng cháu Nguyễn Khánh L, sinh ngày 26/01/2014 đến tuổi trưởng thành (18 tuổi). Công nhận sự tự nguyện của bà H về việc không yêu cầu ông Q cấp dưỡng nuôi con.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
Cha mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
Vì lợi ích của con, khi cần thiết theo yêu cầu của một bên hoặc cả hai bên, Tòa án có thể quyết định thay đổi việc nuôi con và việc cấp dưỡng nuôi con.
+ Về tài sản chung, nợ chung: Bà Chung Ngọc H không có yêu cầu nên không giải quyết.
2. Về án phí: Bà Chung Ngọc H phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0000981 ngày 22-01-2024 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Bà Rịa. Như vậy, bà H đã nộp xong án phí.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 20-5-2024), đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu xét xử theo thủ tục phúc thẩm. Đương sự vắng mặt thì thời hạn kháng cáo là 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh BR-VT; - VKSND TPBR; - UBND nơi đăng ký kết hôn; - Chi cục THADS TPBR; - Các đương sự; - Lưu Thành viên Hội đồng xét xử | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Ngọc Anh Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Thị Ngọc Anh |