vanban.org

Bản án 23/2024/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị Lò Thị T.

Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Lò Thị T được ly hôn anh Hoàng Văn N. Về con chung: Giao cho chị Lò Thị T được trực tiếp nuôi dưỡng con chung Hoàng Trung Th, sinh ngày 21 tháng 4 năm 2016 cho đến khi con chung đủ 18 tuổi hoặc khi có sự thay đổi, anh Hoàng Văn N không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Chị Lò Thị T xin ly hôn anh Hoàng Văn N"
  • Tòa quyết gì? Chấp chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị Lò Thị T.
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN V
TỈNH YB

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 23/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 13-5-2024
V/v: Ly hôn và tranh chấp nuôi con.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN V,TỈNH YB

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Thành Long.

Các Hội thẩm nhân dân:

1, Bà Hà Kim Nhật,

2, Ông Vũ Đình Trường.

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Bích Thảo - Thư ký Toà án nhân dân huyện V, tỉnh YB.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện V, tỉnh YB tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Đức Thắng - Kiểm sát viên

Ngày 13 tháng 5 năm 2024 Toà án nhân dân huyện V, tỉnh YB xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 314/2023/TLST-HNGĐ ngày 18 tháng 12 năm 2023 về việc ly hôn và tranh chấp về nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 14/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 01 tháng 4 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số: 20/2024/QĐST-HNGĐ ngày 17 tháng 4 năm 2024; thông báo mở lại phiên tòa số 50/2024/TB -TA ngày 24 tháng 4 năm 2024 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Lò Thị T, sinh năm 1986. Địa chỉ: Thôn NK, xã GH, huyện V, tỉnh YB. Vắng mặt - Có đơn xin vắng mặt.

- Bị đơn: Anh Hoàng Văn N, sinh năm 1979. Địa chỉ: Thôn NK, xã GH, huyện V, tỉnh YB. Vắng mặt - Không có lý do.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Nguyên đơn chị Lò Thị T trong đơn khởi kiện và bản tự khai trình bày: Chị và anh Hoàng Văn N kết hôn trên cơ sở tự nguyện có đăng ký kết hôn vào ngày 21 tháng 10 năm 2015 tại Ủy ban nhân dân xã GH, huyện V, tỉnh YB. Sau khi kết hôn vợ chồng về chung sống tại thôn NK, xã GH, huyện V, tỉnh YB. Vợ chồng chung sống đến tháng 4 năm 2022 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng tính tình không hợp, anh N không quan tâm chăm lo cho gia đình, còn hay uống rượu chửi mắng xúc phạm chị T. Mâu thuẫn vợ chồng đã được hai bên gia đình hòa giải nhưng không có kết quả. Từ năm 2022, chị T và anh N sống ly thân cho đến nay, vợ chồng không quan tâm đến nhau nữa. Chị T xác định tình cảm vợ chồng không còn, đề nghị Tòa án giải quyết cho chị Lò Thị T ly hôn anh Hoàng Văn N.

- Về con chung: Chị Lò Thị T và anh Hoàng Văn N có 01 con chung là cháu Hoàng Trung Th, sinh ngày 21/4/2016. Trong đơn khởi kiện chị Lò Thị T trình bày để con chung cho anh Hoàng Văn N nuôi dưỡng, trong bản tự khai chị T có nguyện vọng trực tiếp nuôi dưỡng cháu Hoàng Trung Th và không yêu cầu anh N phải cấp dưỡng nuôi con chung.

- Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Tòa án đã tiến hành tống đạt thông báo thụ lý vụ án và triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng anh Hoàng Văn N không có mặt để giải quyết vụ án. Chị T cung cấp cho Tòa án số điện thoại của anh N là xxxxxxxxxx, Tòa án đã liên lạc thông báo về việc thụ lý giải quyết cũng như các văn bản tố tụng cho anh N, anh N có ý kiến không đồng ý ly hôn, không nộp lời khai, không đến Tòa án để giải quyết, chị T xin ly hôn đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.

Tại biên bản xác minh ngày 14/3/2024, Trưởng thôn NK, xã GH, huyện V cung cấp nội dung chị Lò Thị T và anh Hoàng Văn N kết hôn năm 2016, sau khi kết hôn vợ chồng về chung sống tại thôn NK, xã GH, huyện V. Đến năm 2021 chị T đi làm ăn xa từ đó tình cảm vợ chồng rạn nứt, từ năm 2022 chị T và anh N ly thân không quan tâm đến nhau nữa. Chị T và anh N có một con chung là Hoàng Trung Th hiện ở cùng chị T. Việc chị T xin ly hôn Tòa án gửi thông báo thụ lý vụ án và các giấy tờ khác cho anh N nhưng anh N cho biết không đồng ý ly hôn, không đến Tòa án để giải quyết.

Tòa án lấy lời khai cháu Hoàng Trung Th, nếu bố mẹ ly hôn cháu Th có nguyện vọng được ở với mẹ Lò Thị Thư.

* Phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa:

- Về tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Toà án đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn tham gia tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là hoàn toàn đúng quy định của pháp luật Tố tụng Dân sự. Bị đơn được Tòa án tống đạt các văn bản và triệu tập công khai chứng cứ hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt không có lý do đã vi phạm Điều 70, 72 của Bộ luật Tố tụng Dân sự. Nguyên đơn đã có đơn xin xét xử vắng mặt.

- Về nội dung: Căn cứ khoản 4 Điều 147, các Điều 227, 228, 238, 271 và 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 51 khoản 1 Điều 56, các Điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội. Đề nghị Hội đồng xét xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị Lò Thị T. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Lò Thị T được ly hôn với anh Hoàng Văn N.

Về con chung: Đề nghị giao cháu Hoàng Trung Th, sinh ngày 21/4/2016 cho chị Lò Thị T trực tiếp nuôi dưỡng, anh Hoàng Văn N không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Đề nghị tuyên quyền kháng cáo của các đương sự theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng: Bị đơn anh Hoàng Văn N có đăng ký hộ khẩu tại thôn NK, xã GH, huyện V, tỉnh YB, vụ án do Tòa án nhân dân huyện V, tỉnh YB thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng Dân sự.

Tòa án đã tống đạt các văn bản tố tụng theo quy định của pháp luật, nhưng tại phiên tòa anh Hoàng Văn N vẫn vắng mặt không có lý do. Đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử, xét xử vắng mặt bị đơn do đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt không có lý do, thể hiện thái độ cố tình trốn tránh nghĩa vụ đối với nguyên đơn. Chị Lò Thị T vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt. Do đó, căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1, 3 Điều 228; Điều 238 của Bộ luật Tố tụng Dân sự, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt chị Lò Thị T và anh Hoàng Văn N.

Về quan hệ tranh chấp: Chị Lò Thị T và anh Hoàng Văn N kết hôn tự nguyện có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã GH, huyện V. Theo quy định tại khoản 1 Điều 9 của Luật Hôn nhân và gia đình là hôn nhân hợp pháp.

Chị Lò Thị T và anh Hoàng Văn N phát sinh nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng tính tình không hợp, vợ chồng chị T và anh N đã sống ly thân từ năm 2022 cho đến nay. Hội đồng xét xử thấy rằng mâu thuẫn giữa chị T và anh N đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do vậy yêu cầu xin ly hôn của chị T phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về con chung: Chị Lò Thị T và anh Hoàng Văn N có 01 con chung là cháu Hoàng Trung Th, sinh ngày 21/4/2016. Sau khi ly hôn chị Lò Thị T có nguyện vọng trực tiếp nuôi dưỡng cháu Hoàng Trung Th không yêu cầu anh N phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Hội đồng xét xử thấy rằng, trong quá trình giải quyết vụ án anh Hoàng Văn N không đến Toà án để trình bày về nguyện vọng nuôi con là cố tình trốn tránh trách nhiệm về con chung, vì vậy việc giao con cho anh N nuôi dưỡng không được đảm bảo quyền lợi của con chưa thành niên. Do đó Hội đồng xét xử xét thấy cần giao cho chị Lò Thị T trực tiếp nuôi dưỡng con Hoàng Trung Th là phù hợp với nguyện vọng của con trên 7 tuổi, việc chị T không yêu cầu anh Hoàng Văn N phải cấp dưỡng nuôi con là tự nguyện. Do chị T không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về tài sản và nợ chung: Chị Lò Thị T không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí và quyền kháng cáo: Chị Lò Thị T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm ly hôn là 300.000 đồng. Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Quan điểm về việc giải quyết vụ án của Đại diện Viện kiểm sát phù hợp với quy định của pháp luật, nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 4 Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; Điều 228; Điều 238; Điều 271; Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Chấp chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị Lò Thị T.

1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Lò Thị T được ly hôn anh Hoàng Văn N.

2. Về con chung: Giao cho chị Lò Thị T được trực tiếp nuôi dưỡng con chung Hoàng Trung Th, sinh ngày 21 tháng 4 năm 2016 cho đến khi con chung đủ 18 tuổi hoặc khi có sự thay đổi, anh Hoàng Văn N không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Sau khi ly hôn người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom mà không ai được cản trở.

3. Về án phí: Chị Lò Thị T phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm ly hôn được trừ vào 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số AA/2023/0000589 ngày 18/12/2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện V, tỉnh YB, chị Lò Thị T đã nộp đủ án phí.

4. Quyền kháng cáo: Chị Lò Thị T và anh Hoàng Văn N được quyền kháng cáo Bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc ngày niêm yết Bản án.

Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ