vanban.org

Bản án 23/2024/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Huỳnh Thị Bách T.

Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Huỳnh Thị Bách T ly hôn với anh Đỗ Văn H. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Vụ án HNGĐ"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Huỳnh Thị Bách T.
  • Căn cứ chính? Điều 116 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 117 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TUY PHƯỚC
TỈNH BÌNH ĐỊNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 23/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 25-01-2024
V/v ly hôn, tranh chấp
về nuôi con khi ly hôn.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUY PHƯỚC, TỈNH BÌNH ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Văn Công Minh.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Phạm Thành Nghĩa.

2. Ông Nguyễn Vĩnh Mậu.

- Thư ký phiên tòa: Ông Hồ Hữu Long, là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Hoài - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 01 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 235/2023/TLST-HNGĐ, ngày 06 tháng 10 năm 2023, về việc“Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 314/2023/QĐXX-HNGĐ, ngày 12 tháng 12 năm 2023, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Huỳnh Thị Bách T, sinh năm 1987; địa chỉ: Thôn Q, xã P, huyện T, tỉnh Bình Định; có mặt.

- Bị đơn: Anh Đỗ Văn H, sinh năm 1984; địa chỉ: Thôn Q, xã P, huyện T, tỉnh Bình Định; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện ngày 21 tháng 7 năm 2023, tại bản tự khai và tại phiên tòa, nguyên đơn chị Huỳnh Thị Bách T trình bày: Chị và anh Đỗ Văn H kết hôn vào ngày 29 tháng 01 năm 2013 có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã P, huyện T, tỉnh Bình Định. Trước khi kết hôn giữa chị và anh Đỗ Văn H có tìm hiểu rồi tự nguyện đăng ký kết hôn chứ không ai ép buộc, lừa dối. Sau khi kết hôn vợ chồng chị sống hạnh phúc đến năm 2019 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn xuất phát từ việc anh H sống sống không có trách nhiệm với chị và các con; anh H không chăm lo hạnh phúc gia đình; nhiều lần chị và gia đình hai bên khuyên bảo nhưng anh H vẫn không thay đổi dẫn đến giữa chị và anh H thường xuyên xảy mâu thuẫn kình cãi với nhau. Hiện nay chị và anh H không còn sống chung với nhau. Nay chị và anh H không còn tình cảm gì với nhau nên chị yêu cầu ly hôn với anh Đỗ Văn H.

Trong thời gian chung sống, vợ chồng chị có 02 người con chung là cháu Đỗ Đăng K, sinh ngày 10 tháng 3 năm 2014 và cháu Đỗ Đức H1, sinh ngày 03 tháng 12 năm 2019. Hiện nay chị đang trực tiếp nuôi dưỡng các con. Chị yêu cầu giao các con cho chị trực tiếp nuôi dưỡng. Chị không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con. Chị không yêu cầu Toà án giải quyết tài sản chung của vợ chồng chị. Hiện nay chị và anh Đỗ Văn H không phải thực hiện nghĩa vụ về tài sản đối với ai khác. Ngoài ra chị không trình bày và yêu cầu gì thêm.

Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án nhân dân huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định đã tiến hành tống đạt Thông báo về việc thụ lý vụ án; Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; Quyết định đưa vụ án ra xét xử; Quyết định hoãn phiên tòa hợp lệ cho bị đơn anh Đỗ Văn H tham gia tố tụng theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự nhưng anh Đỗ Văn H không có mặt tại phiên tòa lần thứ hai mà không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan. Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của những người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án. Đối với Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; bị đơn đã được triệu tập hợp lệ đến phiên toà lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt.

Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ các điều 51, 56, 81, 82, 83, 84 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Huỳnh Thị Bách T, cho chị Huỳnh Thị Bách T được ly hôn với anh Đỗ Văn H; giao con chung của chị T và anh H là cháu Đỗ Đăng K, sinh ngày 10 tháng 3 năm 2014 và cháu Đỗ Đức H1, sinh ngày 03 tháng 12 năm 2019 cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng. Chị Huỳnh Thị Bách T không yêu cầu anh Đỗ Văn H cấp dưỡng nuôi con nên đề nghị Hội đồng xét xử không xét. Chị Huỳnh Thị Bách T và anh Đỗ Văn H không tranh chấp về việc chia tài sản chung, nghĩa vụ về tài sản chung của vợ chồng và yêu cầu người khác thực hiện nghĩa vụ về tài sản nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết. Nguyên đơn chị Huỳnh Thị Bách T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về yêu cầu ly hôn theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Tranh chấp giữa các đương sự trong vụ án là tranh chấp về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Tại thời điểm thụ lý vụ án và hiện nay bị đơn anh Đỗ Văn H cư trú tại thôn Q, xã P, huyện T, tỉnh Bình Định. Căn cứ theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định.

Về thủ tục tố tụng: Bị đơn anh Đỗ Văn H đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến phiên tòa xét xử lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt mà không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan. Theo quy định tại Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án tiến hành xét xử vụ án vắng mặt bị đơn anh Đỗ Văn H.

Về nội dung vụ án:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Huỳnh Thị Bách T và anh Đỗ Văn H kết hôn vào ngày 29 tháng 01 năm 2013 có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã P, huyện T, tỉnh Bình Định theo Giấy chứng nhận kết hôn số 09/2013, quyển số 01/2013. Việc kết hôn giữa chị T và anh H tuân theo các điều kiện quy định tại Điều 9 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 nên hôn nhân giữa chị T và anh H là hợp pháp. Chị Huỳnh Thị Bách T yêu cầu ly hôn với anh Đỗ Văn H vì cho rằng sau khi kết hôn kết hôn vợ chồng chị T sống hạnh phúc đến năm 2019 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn xuất phát từ việc anh H sống sống không có trách nhiệm với chị T và các con; anh H không chăm lo hạnh phúc gia đình; nhiều lần chị T và gia đình hai bên khuyên bảo nhưng anh H vẫn không thay đổi dẫn đến giữa chị T và anh H thường xuyên xảy mâu thuẫn kình cãi với nhau. Tòa án thu thập các tài liệu, chứng cứ xác định nguyên nhân mâu thuẫn giữa chị T và anh H để tiến hành hòa giải, nhằm mục đích hàn gắn tình cảm vợ chồng chị T và anh H, nhưng anh H không đến Tòa án để tham gia hòa giải và tại phiên tòa hôm nay anh H tiếp tục vắng mặt. Do đó, có đủ căn cứ chứng minh hôn nhân giữa chị T và anh H đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ Điều 51, Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử xét cho chị T được ly hôn với anh H. Về con chung: Chị Huỳnh Thị Bách T và anh Đỗ Văn H có 02 người con chung là cháu Đỗ Đăng K, sinh ngày 10 tháng 3 năm 2014 và cháu Đỗ Đức H1, sinh ngày 03 tháng 12 năm 2019. Chị T yêu cầu giao các con chung cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng. Hội đồng xét xử xét thấy, hiện nay chị T đang trực tiếp nuôi dưỡng cháu K và cháu H1; cháu K có nguyện vọng ở với chị T. Vì vậy để bảo đảm quyền lợi mọi mặt của cháu K và cháu H1, căn cứ vào Điều 81 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 giao cháu K và cháu H1 cho chị T trực tiếp trông nôm, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng. Chị T không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xét. Anh H có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở, nhưng anh H không được lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con của chị T. Khi cần thiết chị T và anh H đều có quyền yêu cầu Tòa án thay đổi người trực tiếp nuôi con, mức cấp dưỡng và phương thức cấp dưỡng nuôi con theo quy định tại các điều 84, 116, 117 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

Về tài sản chung và thực hiện nghĩa vụ về tài sản chung của vợ chồng: Chị Huỳnh Thị Bách T và anh Đỗ Văn H đều không tranh chấp về việc chia tài sản chung, nghĩa vụ về tài sản chung của vợ chồng và yêu cầu người khác thực hiện nghĩa vụ về tài sản nên Hội đồng xét xử không xét.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/PL-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, nguyên đơn chị Huỳnh Thị Bách T phải chịu số tiền 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm về yêu cầu ly hôn để sung vào công quỹ Nhà nước.

Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của những người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án và phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án phù hợp với nhận định trên của Hội đồng xét xử.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các điều 51, 56, 81, 82, 83, 84, 116, 117 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; Điều 227; Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/PL-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Huỳnh Thị Bách T.

2. Về quan hệ hôn nhân:

Cho chị Huỳnh Thị Bách T ly hôn với anh Đỗ Văn H.

Quan hệ hôn nhân giữa chị Huỳnh Thị Bách T và anh Đỗ Văn H theo Giấy chứng nhận kết hôn số 09/2013, quyển số 01/2013 do Ủy ban nhân dân xã P, huyện T, tỉnh Bình Định chứng nhận ngày 29 tháng 01 năm 2013 chấm dứt kể từ ngày bản án này có hiệu lực pháp luật.

3. Về con chung:

Giao con chung của chị Huỳnh Thị Bách T và anh Đỗ Văn H là cháu Đỗ Đăng K, sinh ngày 10 tháng 3 năm 2014 và cháu Đỗ Đức H1, sinh ngày 03 tháng 12 năm 2019 cho chị Huỳnh Thị Bách T trực tiếp trông nôm, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng. Hiện nay chị Huỳnh Thị Bách T đang trực tiếp nuôi dưỡng cháu K và cháu H1.

Chị Huỳnh Thị Bách T không yêu cầu anh Đỗ Văn H cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xét.

Anh Đỗ Văn H có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở, nhưng anh Đỗ Văn H không được lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con của chị Huỳnh Thị Bách T. Khi cần thiết chị Huỳnh Thị Bách T và anh Đỗ Văn H đều có quyền yêu cầu Tòa án thay đổi người trực tiếp nuôi con, mức cấp dưỡng và phương thức cấp dưỡng nuôi con theo quy định tại các điều 84, 116, 117 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

4. Về tài sản chung và thực hiện nghĩa vụ về tài sản chung của vợ chồng: Chị Huỳnh Thị Bách T và anh Đỗ Văn H không tranh chấp về việc chia tài sản chung, nghĩa vụ về tài sản chung của vợ chồng và yêu cầu người khác thực hiện nghĩa vụ về tài sản nên Hội đồng xét xử không xét.

5. Về án phí dân sự sơ thẩm: Buộc chị Huỳnh Thị Bách T phải chịu số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm về yêu cầu ly hôn để sung vào công quỹ Nhà nước nhưng được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí mà chị Huỳnh Thị Bách T đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0001719 ngày 06 tháng 10 năm 2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định.

6. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn chị Huỳnh Thị Bách T có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án (Ngày 25 tháng 01 năm 2024). Bị đơn anh Đỗ Văn H vắng mặt tại phiên tòa có quyền làm đơn kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt, niêm yết hợp lệ. Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Phước,

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA tỉnh Bình Định;

- Chi cục thi hành án dân sự huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định;

- Ủy ban nhân dân xã Phước Hưng, huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định;

- Các đương sự;

- Lưu hồ sơ vụ án;

Văn Công Minh

- Lưu Văn thư. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Phước, THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA tỉnh Bình Định;

- Chi cục thi hành án dân sự huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định;

- Ủy ban nhân phường Trần Quang Diệu, thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định;

- Các đương sự;

- Lưu hồ sơ vụ án;

- Lưu Văn thư.

Văn Công Minh THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Nơi nhận:

- Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Phước, THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA tỉnh Bình Định;

- Chi cục thi hành án dân sự huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định;

- Ủy ban nhân dân thị trấn Tuy Phước, huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định;

- Các đương sự;

- Lưu hồ sơ vụ án;

- Lưu Văn thư.

Văn Công Minh

Cỡ chữ