vanban.org

Bản án 23/2024/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Lò Thị D được ly hôn anh Lò Văn H.

Về con chung: Giao cháu Lò Thị Trà M, sinh ngày 13/7/2013 cho chị Lò Thị D trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục. Giao cháu Lò Duy M, sinh ngày 11/02/2010 cho anh Lò Văn H trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục. Sau khi ly hôn người không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom con, không ai được … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Lò Thị D Và Lò văn H"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Lò Thị D được ly hôn anh Lò Văn H.
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 271 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TC
TỈNH SƠN LA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 23/2024/HNGĐ- ST
Ngày: 28-02-2024
V/v: Ly hôn, nuôi con chung.

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TC, TỈNH SƠN LA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lò Mai Xiêng.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Lý Thị Vinh

2. Ông Phạm Ngọc Thiệp

- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Văn Tiến Dũng- Thư ký Toà án nhân dân huyện TC, tỉnh Sơn La.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện TC, tỉnh Sơn La tham gia phiên tòa: Bà Bạc Thị Thoản - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 02 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện TC, tỉnh Sơn La xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 43/2023/TLST - HNGĐ ngày 16 tháng 11 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 18/2024/QĐXXST- HNGĐ, ngày 19 tháng 01 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số: 16/2024/QĐST-HNGĐ ngày 06 tháng 02 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số: 23/2024/QĐST-HNGĐ ngày 22 tháng 02 năm 2024 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Lò Thị D, sinh năm 1992.

Địa chỉ: Bản L, xã T, huyện TC, tỉnh Sơn La. ( Vắng mặt tại phiên tòa, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).

2. Bị đơn: Anh Lò Văn H, sinh năm 1991.

Địa chỉ: Bản H, xã T, huyện TC, tỉnh Sơn La. ( Vắng mặt tại phiên tòa).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện, bản tự khai và đơn xin xét xử vắng mặt nguyên đơn chị Lò Thị D trình bày:

Về hôn nhân: Chị Lò Thị D và anh Lò Văn H kết hôn với nhau, đăng ký kết hôn ngày 26/3/2011 tại Ủy ban nhân dân xã Tông Cọ, huyện TC, tỉnh Sơn La, kết hôn tự nguyện không bị ép buộc. Quá trình chung sống hòa thuận đến năm 2017 có phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm sống, thường xuyên xảy ra cãi vã, không có tiếng nói chung, mâu thuẫn trầm trọng kéo dài, vợ chồng đã sống ly thân từ năm 2017 cho đến nay, không ai quan tâm đến cuộc sống của ai. Chị Lò Thị D xác định tình cảm vợ chồng không còn, chị đề nghị ly hôn với anh Lò Văn H.

Về con chung: Chị Lò Thị D và anh Lò Văn H có 02 (hai) con chung là cháu Lò Duy M, sinh ngày 11/02/2010 và cháu Lò Thị Trà M, sinh ngày 13/7/2013.

Chị Lò Thị D đề nghị được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc cháu Lò Thị Trà M và giao cháu Lò Duy M cho anh Lò Văn H trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc.

Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Lò Thị D không yêu cầu anh Lò Văn H cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung: Không có.

Về tài sản riêng: Không có.

Về nợ chung: Chị Lò Thị D cam đoan không có nợ chung.

Tại phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ ngày 28/12/2023, ngoài những tài liệu, chứng cứ do chị Doan đã giao nộp, chị Doan không cung cấp tài liệu, chứng cứ gì thêm và không yêu cầu triệu tập đương sự khác, người làm chứng, người tham gia tố tụng khác.

Tại biên bản xác minh ngày 20/12/2023 tại bản Huổi Táp (nay là bản Lào), xã Tông Cọ, huyện TC, tỉnh Sơn La, chị Lò Thị D và anh Lò Văn H có đăng ký kết với nhau tại Ủy ban nhân dân xã Tông Cọ, huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La. Trong quá trình chung sống hạnh ph c có phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm sống, vợ chồng không có tiếng nói chung, hiện nay chị Doan và anh Hặc đã sống ly thân từ năm 2017 cho đến nay. Chị Lò Thị D và anh Lò Văn H có 02 (hai) con chung cháu Lò Duy M, sinh ngày 11/02/2010 và cháu Lò Thị Trà M, sinh ngày 13/7/2013. Hiện tại cháu Lò Thị Trà M đang sống chung với chị Lò Thị D và cháu Lò Duy M đang sống chung với anh Lò Văn H. Anh Hặc có nơi cư tr ổn định, anh Hặc trồng trọt chăn nuôi, có thu nhập và đi làm thuê tăng thêm thu nhập. Anh Hặc, chị Doan, có đủ khả năng và điều kiện nuôi con.

Tại biên bản ghi ý kiến, cháu Lò Thị Trà M có nguyện vọng là ở với mẹ. Cháu Lò Duy M có nguyện vọng là ở với bố.

Chị Lò Thị D có đơn đề nghị xét xử vắng mặt: Chị Doan giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và ý kiến trong bản tự khai.

Bị đơn anh Lò Văn H đã được triệu tập hợp lệ, giao thông báo về việc thụ lý vụ án, giấy triệu tập đương sự, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, thông báo về kết quả về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, Quyết định đưa vụ án ra xét xử, các Quyết định hoãn phiên tòa của Tòa án nhân dân huyện TC. Anh Lò Văn H không chấp hành giấy triệu tập của Tòa án, không viết bản tự khai, không tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và phiên hòa giải.

Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện TC phát biểu ý kiến:

Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán: Kể từ khi Tòa án tiến hành thụ lý vụ án cho đến khi ra quyết định đưa vụ án ra xét xử, Thẩm phán đã thực hiện các thủ tục tố tụng theo đ ng quy định của pháp luật.

Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử: Tại phiên tòa Hội đồng xét xử tham gia đ ng thành phần trong quyết định đưa vụ án ra xét xử, các trình tự của phiên tòa diễn ra theo đ ng quy định của pháp luật.

Việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng: Nguyên đơn đã thực hiện đ ng các quy định tại Điều 70, Điều 71 Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn không thực hiện không đầy đủ các quy định tại Điều 70, Điều 72 Bộ luật Tố tụng dân sự. Việc Tòa án mở phiên tòa xét xử vụ án vắng mặt nguyên đơn, bị đơn là đ ng quy định pháp luật.

Viện kiểm sát đề nghị áp dụng Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 227; Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Lò Thị D được ly hôn anh Lò Văn H.

Về con chung: Giao cháu Lò Duy M, sinh ngày 11/02/2010 cho anh Lò Văn H trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục; giao cháu Lò Thị Trà M, sinh ngày 13/7/2013 cho chị Lò Thị D trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục.

Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị Lò Thị D, anh Lò Văn H không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung: Không có.

Về tài sản riêng: Không có.

Về nợ chung: Chị Lò Thị D, anh Lò Văn H không có nợ chung.

Về án phí: Miễn án phí dân sự sơ thẩm không có giá ngạch cho nguyên đơn chị Lò Thị D.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên toà, ý kiến của Kiểm sát viên Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng: Nguyên đơn chị Lò Thị D yêu cầu giải quyết ly hôn với bị đơn anh Lò Văn H có địa chỉ tại bản Huổi Táp (nay là bản Lào), xã Tông Cọ, huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La. Tòa án nhân dân huyện TC, tỉnh Sơn La thụ lý giải quyết là đ ng thẩm quyền, theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35; Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về sự vắng mặt của nguyên đơn chị Lò Thị D, bị đơn anh Lò Văn H: Nguyên đơn chị Lò Thị D có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Căn cứ khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn. Bị đơn anh Lò Văn H đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ ba vắng mặt tại phiên tòa. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Lò Thị D và anh Lò Văn H kết hôn với nhau, đăng ký kết hôn ngày 26/3/2011 tại Ủy ban nhân dân xã Tông Cọ, huyện TC, tỉnh Sơn La, kết hôn tự nguyện, sau khi kết hôn đến năm 2017 phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, không tìm được tiếng nói chung, thường xuyên xảy ra cãi vã, hôn nhân gia đình trở nên bế tắc, mục đích hôn nhân không đạt được. Chị Lò Thị D và anh Lò Văn H đã sống ly thân từ năm 2017 cho đến nay, không ai quan tâm tới cuộc sống của ai. Chị Doan cho rằng tình cảm vợ chồng không còn, chị đề nghị được ly hôn anh Lò Văn H.

Trên cơ sở xem xét các tài liệu, chứng cứ, bản tự khai, biên bản xác minh tại chính quyền địa phương.

Xét thấy mâu thuẫn vợ chồng giữa chị Doan và anh Hặc trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, xử cho chị Lò Thị D được ly hôn anh Lò Văn H. Căn cứ vào các Điều 51, Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

Về con chung: Chị Lò Thị D và anh Lò Văn H có 02 (hai) con chung là cháu Lò Duy M, sinh ngày 11/02/2010 và cháu Lò Thị Trà M, sinh ngày 13/7/2013. Hiện tại cháu Lò Thị Trà M đang sống chung với chị Lò Thị D và cháu Lò Duy M đang sống chung với anh Lò Văn H.

Chị Lò Thị D đề nghị được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục cháu Lò Thị Trà M, sinh ngày 13/7/2013 và giao cháu Lò Duy M, sinh ngày 11/02/2010 cho anh Lò Văn H được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục. Chị Lò Thị D không yêu cầu anh Lò Văn H cấp dưỡng nuôi con chung.

Chị Doan, anh Hặc có nơi cư tr ổn định, có thu nhập. Chị Doan, anh Hặc có đủ khả năng và điều kiện nuôi con. Hiện tại cháu Lò Thị Trà M đang sống chung với chị Lò Thị D và cháu Lò Duy M đang sống chung với anh Lò Văn H.

Ý kiến cháu Lò Thị Trà M có nguyện vọng là ở với mẹ. Cháu Lò Duy M có nguyện vọng là ở với bố.

Từ các căn cứ nêu trên xét thấy: Để đảm bảo quyền, lợi ích của con, cần giao cháu Lò Duy M, sinh ngày 11/02/2010 cho anh Lò Văn H trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục. Giao cháu Lò Thị Trà M, sinh ngày 13/7/2013 cho chị Lò Thị D trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục.

Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị Lò Thị D, anh Lò Văn H không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Căn cứ Điều 81; Điều 82; Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình.

Về tài sản chung: Không có.

Về tài sản riêng: Không có.

Về nợ chung: Chị Lò Thị D, anh Lò Văn H không có nợ chung.

Về án phí: Chị Lò Thị D có đơn xin miễn án phí dân sự sơ thẩm, xét thấy chị Lò Thị D là người dân tộc thiểu số sống ở xã có điều kiện kinh tế- xã hội đặc biệt khó khăn, căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị Quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Miễn án phí dân sự sơ thẩm không có giá ngạch cho nguyên đơn chị Lò Thị D.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 51; Điều 56; Điều 81; Điều 82; Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình; Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35; Điều 39; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228; khoản 1 Điều 228; Điều 271, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị Quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Lò Thị D được ly hôn anh Lò Văn H.

2. Về con chung: Giao cháu Lò Thị Trà M, sinh ngày 13/7/2013 cho chị Lò Thị D trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục. Giao cháu Lò Duy M, sinh ngày 11/02/2010 cho anh Lò Văn H trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục.

Sau khi ly hôn người không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom con, không ai được cản trở người đó thực hiện quyền này, không được lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con.

3. Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Lò Thị D, anh Lò Văn H không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

4. Về tài sản chung: Không có.

5. Về tài sản riêng: Không có.

6. Về nợ chung: Chị Lò Thị D và anh Lò Văn H không có nợ chung.

7. Về án phí: Miễn án phí dân sự sơ thẩm không có giá ngạch cho nguyên đơn chị Lò Thị D. Hoàn trả lại chị Lò Thị D số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai số: 0000943, ngày 16 tháng 11 năm 2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện TC, tỉnh Sơn La.

8. Về quyền kháng cáo: Chị Lò Thị D, anh Lò Văn H được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết./.

Cỡ chữ