- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Đinh Thị Thúy K và Trần Hữu C"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chị Đinh Thị Thúy K được ly hôn anh Trần Hữu C
- Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NAM ĐÀN TỈNH NGHỆ AN ––––––––––––––– | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 23/2024/HNGĐ - ST Ngày 26 - 6 - 2024 V/v tranh chấp hôn nhân và gia đình |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NAM ĐÀN, TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đặng Thị Phương
Các hội thẩm nhân dân: Bà Phạm Thị Kim Quy và ông Nguyễn Lê Huệ
- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Huyền Trang - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Ông Văn Đình Thắng: Kiểm sát viên
Ngày 26 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An mở phiên tòa xét xử công khai vụ án thụ lý số 43/2024/TLST-HNGĐ ngày 19 tháng 4 năm 2024 về “Tranh chấp hôn nhân và gia đình”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 06/2024/QĐXXST - HNGĐ ngày 27 tháng 5 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 09/2024/QĐST ngày 12 tháng 6 năm 2024 giữa các đương sự;
Nguyên đơn: Chị Đinh Thị Thúy K, sinh năm 1992
Nơi cư trú: xóm 2, xã Nam Thanh, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An; có đơn đề nghị xét xử vắng mặt
Bị đơn: Anh Trần Hữu C, sinh năm 1984
Nơi cư trú: xóm 2, xã Nam Thanh, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An; vắng măt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện xin ly hôn đề ngày 16/4/2024 chị Đinh Thị Thúy K trình bày: Chị và anh Trần Hữu C kết hôn với nhau hoàn toàn tự nguyện có đăng ký kết hôn tại UBND xã Nam Thanh, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An vào ngày 24/11/2014. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc được khoảng 6 năm thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng không hợp tính nhau, thường xuyên bất đồng về quan điểm sống. Vợ chồng thường xuyên cãi vã lẫn nhau mặc dù đã được gia đình hai bên khuyên bảo nhưng không có kết quả. Vợ chồng sống ly thân và cắt đứt mọi quan hệ với nhau đến nay đã hơn 03 năm. Nay chị nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn với anh Trần Hữu C.
Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung là Trần Hữu Gia Ph, sinh ngày 30/11/2016, con hiện đang sống với chị từ nhỏ đến nay. Vợ chồng ly hôn chị có nguyện vọng được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung cho đến khi con đủ tuổi trưởng thành và không yêu cầu anh C phải cấp dưỡng nuôi con chung cho chị.
Về tài sản chung và các khoản nợ: Chị Đinh Thị Thúy K không yêu cầu Toà án giải quyết.
Về phía bị đơn anh Trần Hữu C: Quá trình thụ lý, giải quyết vụ án Tòa án đã tiến hành tống đạt các văn bản tố tụng cho anh C theo đúng quy định. Tuy nhiên, anh C không trực tiếp đến Tòa án để làm việc, không tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và Hòa giải.
Tại biên bản xác minh ngày 10/5/2024 ông Trần Hữu T bố đẻ anh Trần Hữu C trình bày: Về thời gian, địa điểm kết hôn giữa chị K và anh C đúng như chị K đã trình bày. Năm 2014 chị K và anh C kết hôn có đăng ký kết hôn tại UBND xã Nam Thanh. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống cùng gia đình ông tại xóm 3, xã Nam Thanh, huyện Nam Đàn. Vợ chồng chung sống hạnh phúc bình thường, một thời gian sau có xảy ra mâu thuẫn nguyên nhân mâu thuẫn ông cũng không rõ nhưng kể từ đó tình cảm vợ chồng không còn như trước. Sau đó, chị K đã đưa con về nhà ngoại tại xóm 2 xã Nam Thanh, huyện Nam Đàn sinh sống cho đến nay, anh C vẫn chung sống với gia đình ông tại xóm 3, xã Nam Thanh và hiện tại anh C đang đi làm công nhân, thường xuyên vắng nhà chỉ có ngày nghỉ mới về. Anh C đã nhận được các giấy báo, giấy triệu tập của Tòa án nhưng do tính chất công việc không được nghỉ nên không thể đến Tòa án việc theo giấy báo của Tòa án. Qua trao đổi ông T cho biết anh C đồng ý ly hôn với chị K. Vợ chồng có một con chung là Trần Hữu Gia Ph, sinh ngày 30/11/2016 từ nhỏ đên nay cháu sống với chị K. Do đó, vợ chồng ly hôn anh đồng ý giao con cho chị K trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng.
Tại biên bản xác minh ngày 10/5/2024 tại UBND xã Nam Thanh thể hiện: Chị Đinh Thị Thúy K và anh Trần Hữu C đăng ký kết hôn tại UBND xã Nam Thanh vào ngày 24/11/2014. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống cùng gia đình anh Trần Hữu C tại xóm 3, xã Nam Thanh, huyện Nam Đàn. Vợ chồng có 01 con chung là cháu Trần Hữu Gia Ph, sinh ngày 30/11/2016. Hiện nay cháu Ph sống với chị K tại nhà bố mẹ đẻ chị K tại xóm 2, xã Nam Thanh. Anh C vẫn sống cùng gia đình ông Nguyễn Hữu T tại xóm 2, xã Nam Thanh. Quá trình vợ chồng chung sống có xảy ra mâu thuẫn hay không chính quyền không nắm được vì không ai báo cáo. Nay chị K yêu cầu ly hôn đó là việc cá nhân của anh, chị chính quyền địa phương không có ý kiến gì.
Tại phiên tòa ngày 12/6/2024 và ngày 26/6/2024 chị Đinh Thị Thúy K có đơn đề nghị được vắng mặt; anh Trần Hữu C vắng mặt không có lý do.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và các đương sự, phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án.
Về tố tụng: Tòa án thụ lý đúng thẩm quyền, xác định quan hệ tranh chấp; Trong quá trình điều tra thu thập chứng cứ Thẩm phán đã chấp hành đúng quy định tại Điều 48 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Việc thu thập chứng cứ, tống đạt đảm bảo quyền của đương sự. Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử thực hiện đúng theo trình tự từ Điều 239 đến Điều 260 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Việc chấp hành pháp luật của Thư ký phiên tòa được thực hiện đúng quy định tại Điều 51 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Việc chấp hành pháp luật của đương sự: Nguyên đơn chấp hành đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định tại các Điều 70, 71 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn không chấp hành quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định tại các Điều 70, 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các Điều 19, 51, 56, 81, 82, 83, 84 của Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147, 271 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Đinh Thị Thúy K.
Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của Đinh Thị Thúy K được ly hôn anh Trần Hữu C.
Về con chung: Giao con chung Trần Hữu Gia Ph, sinh ngày 30/11/2016 cho chị Đinh Thị Thúy K trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi con đủ tuổi trưởng thành (đủ 18 tuổi). Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con cho Trần Hữu C do chị Đinh Thị Thúy K không yêu cầu.
Về tài sản chung và khoản nợ chung: Nguyên đơn không cầu Tòa án giải quyết nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí: Chị Đinh Thị Thúy K phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi xem xét các tài liệu có tại hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về sự vắng mặt của người tham gia tố tụng: Nguyên đơn vắng mặt tại phiên tòa nhưng có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Bị đơn được triệu tập hợp lệ lần 2 nhưng vắng mặt không có lý do. Căn cứ khoản 1 Điều 207; khoản 1 Điều 228; Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án vắng mặt nguyên đơn, bị đơn theo quy định.
[2] Về yêu cầu ly hôn của nguyên đơn.
Tại phiên tòa mặc dù vắng mặt nhưng quá trình giải quyết vụ án chị Đinh Thị Thúy K giữ nguyên nội dung yêu cầu được ly hôn anh Trần Hữu C.
Xét thấy: Chị Đinh Thị Thúy K và anh Trần Hữu C có đủ điều kiện kết hôn theo quy định tại Điều 8 Luật Hôn nhân và gia đình và có đăng ký kết hôn ngày 24/11/2014 tại UBND xã Nam Thanh, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An đây là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do vợ chồng không hợp tính nhau, không cùng quan điểm sống nên vợ chồng không có tiếng nói chung, thường xuyên cãi vã lẫn nhau. Vợ chồng đã sống ly thân và cắt đứt mọi hệ tính đến thời điểm hiện nay đã hơn 3 năm. Như vậy, vợ chồng không sống chung với nhau, không còn quan tâm, chăm sóc nhau là vi phạm nghiêm trọng quyền và nghĩa vụ của vợ, chồng theo quy định tại Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình, làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, chị K có nguyện vọng được ly hôn. Dó đó, căn cứ Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình, chấp nhận yêu cầu của chị Đinh Thị Thúy K được ly hôn anh Trần Hữu C.
[3] Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung là Trần Hữu Gia Ph, sinh ngày 30/11/2016. Cháu sống với chị K từ nhỏ cho đến nay. Chị K có nguyện vọng được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo con chung cho đến khi con đủ tuổi trưởng thành và không yêu cầu anh C cấp dưỡng nuôi con chung cho chị. Để đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của con, để con được học tập và phát triển tốt. Căn cứ khoản 3 Điều 81 Luật hôn nhân gia đình chấp nhận nguyện vọng của chị Đinh Thị Thúy K; Giao con chung Trần Hữu Gia Ph, sinh ngày 30/11/2016 cho chị Đinh Thị Thúy trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục là phù hợp và cũng phù hợp với nguyện vọng của cháu Ph được sống với mẹ khi bố mẹ ly hôn.
[3.1] Về cấp dưỡng nuôi con chung: Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con cho anh Trần Hữu C do chị Đinh Thị Thúy K không yêu cầu. Anh Trần Hữu C có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở. Vì lợi ích mọi mặt của con, khi có lý do chính đáng hoặc có căn cứ theo quy định pháp luật, khi có yêu cầu của một hoặc hai bên thì Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con.
[4] Về tài sản chung và các khoản nợ: Chị Đinh Thị Thúy K không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[5] Về án phí: Chị Đinh Thị Thúy K phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng Dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
[6] Về quan điểm giải quyết vụ án của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nam Đàn tại phiên tòa là có căn cứ, đúng pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: Khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; khoản 1, khoản 3 Điều 228; Điều 238; Điều 266; khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; các Điều 51, 56, 57, 58, 81, 82, 83, 84 của Luật Hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,
Tuyên xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Đinh Thị Thúy K được ly hôn anh Trần Hữu C
2. Về con chung:
2.1. Giao con chung Trần Hữu Gia Ph, sinh ngày 30/11/2016 cho chị Đinh Thị Thúy K trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi con đủ tuổi trưởng thành (đủ 18 tuổi).
2.2. Về cấp dưỡng nuôi con: Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung cho anh Trần Hữu C.
Anh Trần Hữu C có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung, không ai được cản trở. Vì lợi ích mọi mặt của con, khi có lý do chính đáng hoặc có căn cứ theo quy định pháp luật, khi có yêu cầu của một hoặc hai bên thì Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con.
3. Về tài sản chung, nợ chung: Hội đồng xét xử không xem xét.
4. Về án phí: Chị Đinh Thị Thúy K phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm, nhưng được khấu trừ vào 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp tại Cục thi hành án dân sự huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An theo biên lai số 0001625 ngày 19/4/2024. Chị Đinh Thị Thúy K đã nộp đủ tiền án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn.
Trường hợp Bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
5. Về quyền kháng cáo: Chị Đinh Thị Thúy K và anh Trần Hữu C vắng mặt có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật./. Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- Các đương sự
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- TAND tỉnh Nghệ An;
- VKSND huyện Nam Đàn
- Chi Cục THADS huyện Nam Đàn;
- UBND xã Nam Thanh;
- Lưu Hồ sơ vụ án.
Đặng Thị Phƣơng
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Nhƣ Khôi
Lê Phúc Lâm
Đặng Thị Phƣơng
| Nơi nhận: - Các đương sự - TAND tỉnh Nghệ An; - VKSND huyện Nam Đàn - Chi Cục THADS huyện Nam Đàn; - UBND thị trấn Nam Đàn; - Lưu: Hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đặng Thị Phƣơng |