vanban.org

Bản án 23/2024/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Cho bà Trương Thị Kiều T ly hôn đối với ông Phan Văn H.

Về nuôi con: Có bốn người con chung. Phan Văn H1, sinh ngày 21/11/2009 (nam);

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bản án Hôn nhân và gia đình sơ thẩm"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Cho bà Trương Thị Kiều T ly hôn đối với ông Phan Văn H.
  • Căn cứ chính? Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 5 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN NĂM CĂN
TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 23/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 25-3-2024
V/v tranh chấp “Xin ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NĂM CĂN, TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Bà Phan Diệu Hiền.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Vũ Xuân Chính;

Ông Nguyễn Văn Tiến.

- Thư ký phiên tòa: Bà Ngô Thị Diễm Quỳnh là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Năm Căn, tỉnh Cà Mau.

Ngày 25 tháng 3 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Năm Căn, tỉnh Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 04/2024/TLST-HNGĐ ngày 04 tháng 01 năm 2024 về tranh chấp “Xin ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 16/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 19 tháng 02 năm 2024, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Trương Thị Kiều T, sinh năm 1993 (xin vắng mặt).

Địa chỉ cư trú: Ấp X, xã V, huyện N, tỉnh Cà Mau.

Bị đơn: Ông Phan Văn H, sinh năm 1986 (vắng mặt).

Địa chỉ cư trú: Khóm 8, thị trấn N, huyện N, tỉnh Cà Mau.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Nguyên đơn, bà Trương Thị Kiều T trình bày:

- Về hôn nhân: Bà Trương Thị Kiều T và ông Phan Văn H kết hôn trên tinh thần tự nguyện vào năm 2009. Đến ngày 13/9/2013, hôn nhân mới lập thủ tục đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Vĩnh Thịnh, huyện Hòa Bình, tỉnh Bạc Liêu.

Lý do ly hôn: Quá trình chung sống vợ, chồng không hòa hợp, bất đồng quan điểm do ông H chỉ đam mê cờ bạc, không có trách nhiệm với gia đình dẫn đến hôn nhân không đạt được hạnh phúc, vợ chồng ly thân từ tháng 11 năm 2023 đến nay, quá trình ly thân đã lâu và vợ chồng không thể hàn gắn hôn nhân. Xét thấy, tình cảm vợ chồng không còn nên bà Trương Thị Kiều T yêu cầu ly hôn với ông Phan Văn H.

- Về nuôi con: Có 04 người con chung.

Phan Văn H1, sinh ngày 21/11/2009 (nam);

Phan Thị Kiều P, sinh ngày 19/5/2012 (nữ);

Phan Thị Như Y, sinh ngày 21/8/2014 (nữ);

Phan Hạo N, sinh ngày 18/01/2016 (nam).

Hiện nay các người con đang sống chung với bà T. Nguyện vọng, con chung chưa trưởng thành theo ai thì người đó có trách nhiệm nuôi dưỡng, không đặt ra vấn đề cấp dưỡng.

- Tài sản chung: Vợ chồng tự thỏa thuận phân chia, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Công nợ: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Đối với bị đơn ông Phan Văn H: Tòa án đã tống đạt hợp lệ Thông báo thụ lý vụ án, hết thời hạn theo quy định mà ông Phan Văn H không có văn bản trình bày ý kiến của mình về việc bà Trương Thị Kiều T yêu cầu ly hôn, về việc nuôi con, cấp dưỡng cho con, chia tài sản chung và công nợ. Đồng thời, Tòa án đã tống đạt hợp lệ 02 lần Thông báo về phiên họp, kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng ông H vẫn vắng mặt không có lý do.

Tại phiên tòa:

Nguyên đơn và bị đơn đều vắng mặt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

. Về thủ tục tố tụng

Bà Trương Thị Kiều T yêu cầu ly hôn với ông Phan Văn H, yêu cầu nuôi con chung ngoài ra không có yêu cầu gì khác. Đây là tranh chấp “Xin ly hôn” quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự; ông Phan Văn H cư trú tại khóm 8, thị trấn N, huyện N, tỉnh Cà Mau nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Năm Căn, tỉnh Cà Mau theo quy định tại Điều 35, Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Bà Trương Thị Kiều T có đơn xin vắng mặt phiên xét xử vì hoàn cảnh khó khăn, điều kiện công việc làm ăn xa nên không thể có mặt theo giấy triệu tập của Tòa án, yêu cầu này của bà T là chính đáng và phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Ông Phan Văn H đã được Tòa án triệu tập xét xử hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt tại phiên tòa không lý do nên căn cứ khoản 2 Điêu 227 Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt ông H.

. Về nội dung vụ án

- Về hôn nhân: Bà Trương Thị Kiều T và ông Phan Văn H kết hôn trên tinh thần tự nguyện vào năm 2009. Đến ngày 13/9/2013, hôn nhân mới lập thủ tục đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Vĩnh Thịnh, huyện Hòa Bình, tỉnh Bạc Liêu. Giấy chứng nhận kết hôn số 135, quyển số I/2013, vì vậy quan hệ giữa bà Trương Thị Kiều T và ông Phan Văn H được pháp luật công nhận là vợ chồng.

Bà Kiều T cho rằng quá trình chung sống vợ, chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng quan điểm, ông H đam mê cờ bạc, không có trách nhiệm với gia đình dẫn đến mất hạnh phúc, vợ chồng ly thân từ tháng 11 năm 2023 đến nay nên bà Trương Thị Kiều T yêu cầu ly hôn với ông Phan Văn H. Tòa án đã triệu tập ông Phan Văn H nhiều lần để tham gia hòa giải và xét xử nhưng ông vắng mặt không lý do và không có ý kiến phản hồi đối với yêu cầu ly hôn của bà T, cho thấy ông H không thiện chí hàn gắn hôn nhân. Mặt khác, Tòa án đã nhận được Đơn cam kết do bà T và ông H cùng ký tên có nội dung: Một căn nhà và 5m đất trống có giá trị 200.000.000 đồng và hai chiếc xe là quyền sở hữu của vợ tôi là Trương Thị Kiều T sinh năm 1993 và ba đứa con giao quyền cho vợ tôi nuôi chừng nào sang nhà được thì vợ tôi chia cho tôi 80.000.000 đồng, kể từ ngày 10 tháng 2 năm 2021 tôi Phan Văn H không còn quyền hạn gì với ba đứa con tôi nữa …”, đến ngày 18/2/2021, bà T đã giao cho ông H số tiền 80.000.000 đồng. Do đó Hội đồng xét xử xét thấy mâu thuẫn giữa các đương sự đã đến mức trầm trọng, có duy trì cũng không mang lại hạnh phúc cho đôi bên nên chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Trương Thị Kiều T đối với ông Phan Văn H theo quy định tại Điều 51 và khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.

- Về nuôi con: Có bốn người con chung.

Phan Văn H1, sinh ngày 21/11/2009 (nam);

Phan Thị Kiều P, sinh ngày 19/5/2012 (nữ);

Phan Thị Như Y, sinh ngày 21/8/2014 (nữ);

Phan Hạo N, sinh ngày 18/01/2016 (nam).

Hiện nay các người con đang sống chung với bà T, nguyện vọng con chung chưa trưởng thành theo ai thì người đó có trách nhiệm nuôi dưỡng. Ông Phan Văn H không có ý kiến phản hồi đối với việc nuôi con chung. Hội đồng xét xử xét thấy các người con hiện nay đều trên 07 tuổi, khi cha mẹ ly hôn, các cháu đều có nguyện vọng chung sống với mẹ (Đơn yêu cầu đề ngày 22/01/2024). Mặt khác, từ khi hai đương sự sống ly thân cho đến nay, các người con được bà T chăm sóc, nuôi dưỡng, các cháu vẫn phát triển bình thường về thể chất và tinh thần, để đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của các người con nên giao các con cho bà Trương Thị Kiều T trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp theo quy định tại Điều 81 của Luật hôn nhân và gia đình.

Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được quyền cản trở.

- Việc cấp dưỡng nuôi con, về chia tài sản, nợ thu và nợ trả: Các đương không yêu cầu Tòa án giải quyết, căn cứ vào Điều 5 của Bộ luật tố tụng dân sự “Tòa án chỉ thụ lý giải quyết vụ việc dân sự khi có đơn khởi kiện, đơn yêu cầu của đương sự và chỉ giải quyết trong phạm vi đơn khởi kiện, đơn yêu cầu đó”, do đương sự không đặt ra yêu cầu nên không xem xét là có cơ sở.

- Về án phí: Bà Trương Thị Kiều T phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm không giá ngạch là 300.000 đồng theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, bà T được khấu trừ tạm ứng án phí đã nộp.

Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các điều 147, 220, khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 và Điêu 238 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 51, khoản 1 Điều 56 và Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/ 2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

Về hôn nhân: Cho bà Trương Thị Kiều T ly hôn đối với ông Phan Văn H.

Về nuôi con: Có bốn người con chung.

Phan Văn H1, sinh ngày 21/11/2009 (nam);

Phan Thị Kiều P, sinh ngày 19/5/2012 (nữ);

Phan Thị Như Y, sinh ngày 21/8/2014 (nữ);

Phan Hạo N, sinh ngày 18/01/2016 (nam).

Hiện nay các người con đang sống với bà T. Khi ly hôn, giao hết các người con cho bà Trương Thị Kiều T trực tiếp nuôi dưỡng.

Ông Phan Văn H có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

Việc cấp dưỡng nuôi con, về chia tài sản: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.

Về nợ thu và nợ trả: Không có và không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về án phí: Bà Trương Thị Kiều T phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm không có giá ngạch là 300.000 đồng, bà T được khấu trừ số tiề n tạ m ứ ng á n phí 300.000 đồ ng đã nộp theo biên lai thu tiền số 0013837 ngày 04 tháng 01 năm 2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Năm Căn, bà T không phải nộp thêm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự.

Các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày tính từ ngày nhận bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.

Cỡ chữ