- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Yêu cầu không công nhận vợ chồng"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Võ Văn K.
- Căn cứ chính? Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KẾ SÁCH TỈNH SÓC TRĂNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 23/2024/HNGĐ-ST Ngày: 13/3/2024 V/v y/c không công nhận vợ chồng |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KẾ SÁCH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Linh Đa.
Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Tăng Thị Bạch Vân
2. Ông Trần Hoàng Bảy.
- Thư ký phiên tòa: Bà Lý Hồng Trang – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Kế Sách.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kế Sách tham gia phiên tòa: Bà Quách Thị Đào – Kiểm sát viên.
Ngày 13/3/2024, tại phòng xử án thuộc trụ sở Tòa án nhân dân huyện Kế Sách xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân gia đình thụ lý số: 435/2023/TLST–HNGĐ ngày 25/12/2023 về việc “Yêu cầu không công nhận vợ chồng và nuôi con chung”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 30/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 29/01/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 36/2023/QĐST-HNGĐ ngày 20/02/2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Võ Văn K, sinh năm 1970 (vắng mặt).
Địa chỉ: Số G ấp H, xã X, huyện K, tỉnh Sóc Trăng.
- Bị đơn: Bà Đoàn Thanh T, sinh năm 1974 (vắng mặt).
Địa chỉ: Số G ấp H, xã X, huyện K, tỉnh Sóc Trăng.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Căn cứ vào đơn khởi kiện của nguyên đơn, qua xem xét lời khai và yêu cầu của các đương sự, qua xét hỏi trước tòa, nội dung vụ án được xác định như sau:
Theo đơn khởi kiện ngày 16/11/2023, trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn ông Võ Văn K trình bày: Vào năm 2002, ông Võ Văn K và bà Đoàn Thanh T quen biết, có tình cảm và được gia đình tổ chức lễ cưới nhưng không có đăng ký kết hôn. Trong quá trình chung sống, ông K và bà T có 02 con chung tên Võ Tiến Đ, sinh ngày 04/11/2003, hiện đã trưởng và có cuộc sống riêng; con chung tên Võ Thành P, sinh ngày 08/12/2019 hiện nay đang sống chung với ông K. Vợ chồng có thời gian chung sống hạnh phúc. Đến ngày 13/03/2019, bà T bỏ nhà đi, từ đó ông K và bà T không còn chung sống với nhau cho đến nay. Nhận thấy đời sống hôn nhân không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên ông K yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Kế Sách giải quyết những vấn đề sau:
Về hôn nhân: Yêu cầu Tòa án không công nhận ông Võ Văn K và bà Đoàn Thanh T là vợ chồng.
Về con chung: Con chung tên Võ Tiến Đ, sinh ngày 04/11/2003, đã trưởng thành, phát triển bình thường về mặt thể chất và tinh thần nên ông K không yêu cầu Tòa án giải quyết; Yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung tên Võ Thành P, sinh ngày 08/12/2009 cho đến khi cháu P đủ 18 tuổi, không yêu cầu bà T cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Vợ chồng tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Không có, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Đối với bị đơn bà Đoàn Thanh T: Từ khi Tòa án thụ lý giải quyết cho đến nay, bà T không tham gia tố tụng nên Tòa án không thể thu thập được lời khai và yêu cầu của bà T.
Nguyên đơn không rút đơn khởi kiện, bị đơn không tham gia tố tụng nên các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết toàn bộ vụ án.
Tại phiên tòa, vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kế Sách phát biểu ý kiến:
Trong quá trình thụ lý, giải quyết vụ án, Thẩm phán tiến hành các thủ tục tố tụng đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 như thẩm quyền thụ lý vụ án, xác định tư cách đương sự, quan hệ tranh chấp, thu thập chứng cứ. Hội đồng xét xử, Thư ký đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về việc xét xử sơ thẩm vụ án. Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định pháp luật. Riêng bị đơn không chấp hành nghiêm theo Giấy triệu tập của Tòa án.
Về nội dung giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, đình chỉ đối với phần yêu cầu giải quyết về tài sản chung do nguyên đơn đã rút yêu cầu.
Về án phí: Nguyên đơn phải chịu theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng: Xét thấy tại phiên tòa, nguyên đơn ông Võ Văn K có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt; bị đơn bà Đoàn Thanh T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không lý do. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ vào các Điều 227, 228, 238 Bộ luật Tố tụng dân sự, xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn. [2] Về nội dung vụ án:
Về quan hệ hôn nhân: Ông K và bà T chung sống với nhau như vợ chồng nhưng không đăng ký kết hôn nên không được pháp luật công nhận hôn nhân của ông bà là hợp pháp. Trong quá trình chung sống, ông K và bà T phát sinh nhiều mâu thuẫn. Hội đồng xét xử thấy rằng, quan hệ hôn nhân phải được xây dựng trên cơ sở tự nguyện của hai bên và đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật. Ông K có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt cho thấy ông K đã không muốn hàn gắn, bà T thì không tham gia tố tụng. Vì vậy, Hội đồng xét xử xét thấy cần áp dụng Điều 14, Điều 53 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, chấp nhận yêu cầu không công nhận vợ chồng của ông K.
Về con chung: Ông K và bà T có 02 con chung tên Võ Tiến Đ, sinh ngày 04/11/2003 và Võ Thành P, sinh ngày 08/12/2009. Cháu Đ đã trưởng thành, phát triển bình thường về mặt thể chất và tinh thần nên ông K không yêu cầu Tòa án giải quyết; Riêng cháu Phát hiện đang sống chung với ông K, ông K có yêu cầu trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi cháu P đủ 18 tuổi, riêng bà T không có ý kiến về việc nuôi con. Để đảm bảo quyền lợi về mọi mặt cho con chung, Hội đồng xét xử cần ổn định môi trường sống của cháu. Căn cứ các Điều 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử cần giao cháu P cho ông K trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi cháu P đủ 18 tuổi. Dành quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung cho bà T không ai được quyền ngăn cản.
Về cấp dưỡng nuôi con chung: Ông K không yêu cầu bà T cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử ghi nhận.
Về tài sản chung và nợ chung: Các đương sự không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
Xét đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát: Hội đồng xét xử chấp nhận đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kế Sách như đã phân tích trên.
Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm không có giá ngạch là 300.000 đồng theo quy định tại điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định tại các Điều 271, 273 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; Điều 227, 228, 238; Điều 271, 273; Điều 278, Điều 280 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ các Điều 14, 53, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ vào Điều 26 Luật Thi hành án dân sự;
Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án,
TUYÊN XỬ:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Võ Văn K.
1.1. Tuyên bố ông Võ Văn K và bà Đoàn Thanh T không phải là vợ chồng.
1.2. Về con chung: Giao cháu Võ Thành P, sinh ngày 08/12/2009 cho ông Võ Văn K trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi cháu P đủ 18 tuổi.
Bà Đoàn Thanh T được quyền thăm nom, chăm sóc và giáo dục con chung, không ai có quyền ngăn cản.
1.3. Về cấp dưỡng nuôi con chung: Ghi nhận việc ông Võ Văn K không yêu cầu bà Đoàn Thanh T cấp dưỡng nuôi con.
2. Về tài sản chung và nợ chung: Các đương sự không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
3. Án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm không có giá ngạch là 300.000 đồng, ông Võ Văn K phải chịu là 300.000 đồng, được khấu trừ vào Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0001070 ngày 25/12/2023 do Chi cục thi hành án dân sự huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng đã thu.
4. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án, đối với người vắng mặt được tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai theo quy định của pháp luật, để Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng xử phúc thẩm.
5. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a ,7b và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - TAND tỉnh Sóc Trăng; - VKSND huyện Kế Sách; - Chi cục THADS huyện Kế Sách; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Linh Đa |