- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn"
- Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị Thanh P đối với ông Nguyễn Quốc D về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn”.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÒA VANG – TP ĐÀ NẴNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 23/2024/HNGĐ-ST Ngày: 27-5-2024 V/v “Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÒA VANG - THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Đức Tuấn.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Văn Bút và bà Lê Thị Hồng.
- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Đình Nam – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Văn Nghiệp - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 156/2023/TLST-HNGĐ ngày 05 tháng 12 năm 2023 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 17/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 05 tháng 4 năm 2024, Quyết định hoãn phiên tòa số: 18/2024/QĐST-HNGĐ ngày 03 tháng 5 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Trần Thị Thanh P – sinh năm: 1985, nơi cư trú: Tổ B, thôn N, xã H, huyện H, thành phố Đà Nẵng; số CCCD: xxxxxxxxxxxx, cấp ngày: 07/02/2022 (có mặt).
- Bị đơn: Ông Nguyễn Quốc D – sinh năm: 1985, nơi cư trú: Tổ B, thôn N, xã H, huyện H, thành phố Đà Nẵng; số CCCD: xxxxxxxxxxxx, cấp ngày: 07/02/2022 (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện đề ngày 15/11/2023, bản tự khai ghi ngày 19/3/2024 và tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn bà Trần Thị Thanh P trình bày:
Bà Trần Thị Thanh P và ông Nguyễn Quốc D tự nguyện đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện H, thành phố Đà Nẵng vào ngày 12/11/2008 (số đăng ký: 103). Sau khi kết hôn, vợ chồng sống chung tại thôn M, xã H, huyện H, thành phố Đà Nẵng. Đời sống chung vợ chồng hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do vợ chồng không hoà hợp trong lối sống, ông D không lo làm ăn, lâm vào con đường cờ bạc, nợ nần buộc phải bán nhà cửa trả nợ dẫn đến vợ chồng thường xuyên cãi vã, gây gổ và xúc phạm nhau làm cho đời sống chung vợ chồng không còn hạnh phúc. Vì thế, bà P và ông D không còn tiếp tục sống chung từ tháng 7 năm 2022. Nay bà P xác định không còn tình cảm, mâu thuẫn vợ chồng không thể hàn gắn, mục đích hôn nhân không đạt được, cuộc sống chung không thể kéo dài nên Bà yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn với ông D.
Về con chung, bà Trần Thị Thanh P xác định có 02 con chung tên Nguyễn Quốc V - sinh ngày: 21/6/2008 và Nguyễn Quang M – sinh ngày: 07/9/2011. Bà P yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng cả 02 con chung và không yêu cầu ông D cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung và nợ chung, bà P xác định vợ chồng không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn ông Nguyễn Quốc D không trình bày ý kiến, không đến Toà án để tham gia tố tụng dù đã được Toà án cấp, tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý vụ án, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hoà giải, Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên toà.
Tại phiên tòa hôm nay, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hoà Vang, thành phố Đà Nẵng phát biểu ý kiến như sau:
- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về thẩm quyền giải quyết, thu thập chứng cứ, tống đạt văn bản tố tụng cho các đương sự trong quá trình giải quyết vụ án; tại phiên tòa hôm nay, Hội đồng xét xử đã thực hiện trình tự thủ tục tố tụng tại phiên tòa phù hợp với quy định của pháp luật; nguyên đơn đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về giải quyết nội dung vụ án: Căn cứ các Điều 51, 56, 82, 83 và 84 của Luật Hôn nhân và gia đình, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, cho bà Trần Thị Thanh P được ly hôn ông Nguyễn Quốc D, giao cả 02 con chung bà P trực tiếp nuôi dưỡng; ông D không phải cấp dưỡng nuôi con.
+ Về án phí: Buộc bà P phải chịu án phí Hôn nhân và gia đình theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về thủ tục tố tụng: Bà Trần Thị Thanh P và ông Nguyễn Quốc D đã tự nguyện đăng ký kết hôn, được Ủy ban nhân dân xã H, huyện H, thành phố Đà Nẵng cấp Giấy chứng nhận kết hôn số: 103 vào ngày 12/11/2008. Bị đơn ông Nguyễn Quốc D hiện đang cư trú tại huyện H, thành phố Đà Nẵng. Do vậy, Tòa án nhân dân huyện Hoà Vang, thành phố Đà Nẵng thụ lý và giải quyết yêu cầu khởi kiện của bà P đối với ông D về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn” là đúng với quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Tại phiên tòa hôm nay, bị đơn Nguyễn Quốc D đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Do đó, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung giải quyết: Quan hệ hôn nhân giữa bà Trần Thị Thanh P và ông Nguyễn Quốc D là hợp pháp. Trong thời gian chung sống, giữa hai bên đương sự phát sinh mẫu thuẫn trầm trọng nên không tiếp tục sống chung với nhau. Theo bà P khai, nguyên nhân mâu thuẫn dẫn đến vợ chồng sống mỗi người một nơi từ tháng 7 năm 2022 cho đến nay là do vợ chồng không hoà hợp trong lối sống, cách ứng xử, ông D không chăm lo làm ăn mà lâm vào cờ bạc dẫn đến nợ nần phải bán nhà cửa làm cho vợ chồng thường xuyên cãi vã, gây gổ, xúc phạm nhau.
Qua xác minh tại địa phương nơi bị đơn đang cư trú vào ngày 27/3/2024 thể hiện vợ chồng bà P có mâu thuẫn, hiện nay vợ chồng không còn sống chung với nhau. Như vậy, lời trình bày của bà P về quan hệ hôn nhân, sự mâu thuẫn giữa hai bên là đúng sự thật. Trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa hôm nay bà P kiên quyết xin được ly hôn, còn ông D không đến Tòa án, điều này thể hiện bị đơn không còn mong muốn hàn gắn quan hệ vợ chồng. Do đó, Hội đồng xét xử có căn cứ xác định đời sống hôn nhân của các đương sự đã thực sự lâm vào tình trạng trầm trọng, mục đích của hôn nhân không đạt được, đời sống vợ chồng không thể kéo dài. Xét thấy yêu cầu ly hôn của bà P phù hợp với quy định tại Điều 51, 56 của Luật Hôn nhân và gia đình nên Hội đồng xét xử chấp nhận cho bà P ly hôn ông D, phù hợp với ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tại phiên toà.
Về nuôi dưỡng con chung: Bà P và ông D có 02 con chung tên Nguyễn Quốc V - sinh ngày: 21/6/2008 và Nguyễn Quang M – sinh ngày: 07/9/2011. Hiện nay cả 02 con chung đang được bà P trực tiếp chăm sóc và phát triển bình thường. Bà P mong muốn được tiếp tục nuôi dưỡng con chung khi ly hôn, nên để đảm bảo quyền lợi và sự ổn định cho phát triển của các con chung, Hội đồng xét xử giao cả 02 con chung cho bà P nuôi dưỡng là phù hợp quy định tại khoản 2 Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình.
Về nghĩa vụ cấp dưỡng: Bà P không yêu cầu ông D phải cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không giải quyết.
Về tài sản chung và nghĩa vụ tài sản đối với bên thứ ba: Trong quá trình giải quyết vụ án, bà P xác nhận trong thời kỳ hôn nhân hai vợ chồng không có tài sản chung, không có nghĩa vụ tài sản gì đối với bên thứ ba. Do đó, Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết trong vụ án này. Trường hợp nếu có tranh chấp thì các bên được quyền khởi kiện bằng vụ án dân sự khác để giải quyết.
Về án phí: Bà P phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự và Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào: Các Điều 51, 56, 81, 82, 83 và 84 của Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số: 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị Thanh P đối với ông Nguyễn Quốc D về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn”.
1. Về quan hệ hôn nhân: Cho bà Trần Thị Thanh P ly hôn ông Nguyễn Quốc D.
2. Về con chung: Giao cả 02 con chung tên Nguyễn Quốc V - sinh ngày: 21/6/2008 và Nguyễn Quang M – sinh ngày: 07/9/2011 cho bà Trần Thị Thanh P trực tiếp nuôi dưỡng; ông Nguyễn Quốc D không cấp dưỡng nuôi con chung.
Các đương sự có quyền và nghĩa vụ đối với con chung theo quy định của pháp luật. Khi vì lợi ích con chung, các đương sự có quyền xin thay đổi người trực tiếp nuôi con sau ly hôn hoặc yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.
3. Về án phí: Bà Trần Thị Thanh P phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số 0000816 ngày 05/12/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hoà Vang, thành phố Đà Nẵng; như vậy, bà P đã nộp đủ tiền án phí.
4. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (27/5/2024). Riêng bị đơn được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
5. Trường hợp bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - VKSND huyện Hoà Vang; - CCTHADS huyện Hoà Vang; - UBND xã Hoà Phước, H.Hoà Vang (Số ĐKKH: 103 ngày 12/11/2008); - Đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Nguyễn Đức Tuấn |