- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Hôn nhân sơ thẩm"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận cho anh Phạm Văn Ổ ly hôn với chị Lê Thị Thanh T.
- Căn cứ chính? Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAI LẬY TỈNH TIỀN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 23/2024/HNGĐ-ST Ngày: 01-02-2024 V/v tranh chấp ly hôn và nuôi con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAI LẬY, TỈNH TIỀN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Công Vĩnh Đức.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Huỳnh Văn Hoàn.
2. Bà Nguyễn Thị Kim Hạnh.
- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Tiểu Thơ, Thư ký Tòa án của Tòa án nhân huyện Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang.
Ngày 01 tháng 02 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang xét xử sơ thẩm công khai, theo thủ tục thông thường vụ án thụ lý số 613/2023/TLST-HNGĐ ngày 30 tháng 11 năm 2023 về việc “Tranh chấp ly hôn và nuôi con” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 02/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 02 tháng 01 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Anh Phạm Văn Ổ, sinh năm 1981.
Địa chỉ: Tổ F, khu phố B, thị trấn B, huyện C, tỉnh Tiền Giang.
- Bị đơn: Chị Lê Thị Thanh T, sinh năm 1989.
Địa chỉ: Tổ F, khu phố B, thị trấn B, huyện C, tỉnh Tiền Giang.
Anh Ổ có đơn xin vắng mặt, chị T vắng mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong Đơn khởi kiện ngày 20/11/2023, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn anh Ổ trình bày:
Vào năm 2008, anh và chị T được hai bên gia đình thuận tình tổ chức lễ cưới theo phong tục truyền thống, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn B, huyện C vào ngày 06/5/2009. Quá trình chung sống, vợ chồng có cãi vã nhưng không đáng kể, vẫn cùng nhau vun vén gia đình và lo cho hai con nhỏ. Đến năm 2021, vợ chồng thường xuyên mâu thuẫn, nguyên nhân chủ yếu do vợ chồng không cùng quan điểm sống, cách nhìn nhận cuộc sống và mục đích sống khác nhau. Chị T đi làm xa nên ở trọ gần chỗ làm để tiện việc đi lại, từ đó vợ chồng thường xuyên không gặp mặt, dẫn đến hạnh phúc gia đình lạnh nhạt dần. Sau đó, anh phát hiện bà T sống không chung thủy, nhưng thương vợ nên anh tha thứ bỏ qua mọi việc, động viên hàn gắn tình cảm gia đình. Tuy nhiên không được bao lâu, đến năm 2023, chị T lại sống không chung thủy, bỏ bê gia đình và hai con nhỏ, bỏ mặc hai con cho anh chăm sóc, lo lắng mà không quan tâm đến, anh đã nhiều lần hàn gắn, hòa giải với chị T nhưng không thành, chị T không muốn níu kéo tình cảm vợ chồng.
Hiện tại anh nhận thấy hôn nhân không có hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được, không thể cùng chung sống, nên anh khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn với chị T.
Về con chung: Vợ chồng có hai người con chung tên Phạm Khánh D, sinh ngày 01/4/2009 và Phạm Thị Ngọc H, sinh ngày 12/8/2010, hiện do anh nuôi dưỡng. Ly hôn anh yêu cầu tiếp tục nuôi dưỡng hai cháu D và H, không yêu cầu chị T cấp dưỡng nuôi hai cháu D và H.
Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Chị T đã được Tòa án tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý vụ án; thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải; thông báo kết quả phiên họp; quyết định đưa vụ án ra xét xử và quyết định hoãn phiên tòa nhưng vẫn không có ý kiến và không có mặt để dự phiên tòa.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử xét thấy:
[1] Về quan hệ pháp luật: Đây là tranh chấp ly hôn và nuôi con theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về tố tụng: Anh Ổ có đơn xin vắng mặt. Chị T đã được Tòa án tống đạt hợp lệ quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên tòa nhưng vẫn không có mặt để dự phiên tòa. Do đó, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt anh Ổ và chị T theo quy định tại khoản 1, 2 Điều 227, khoản 1, 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về quan hệ hôn nhân: Anh Ổ, chị T chung sống vợ chồng năm 2008, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã B (N là thị trấn B), huyện C, tỉnh Tiền Giang vào ngày 06/5/2009, nên quan hệ hôn nhân giữa anh Ổ với chị T là hợp pháp. Anh Ổ xác định vợ chồng xảy ra nhiều mâu thuẫn như trên, làm cho hôn nhân không có hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được, không thể cùng chung sống, nên anh Ổ yêu cầu xin ly hôn với chị T. Nhưng chị T cũng không có ý kiến gì để phản đối yêu cầu xin ly hôn của anh Ổ, nên theo khoản 2 Điều 92 của Bộ luật tố tụng dân sự thì đây là tình tiết không phải chứng minh.
Xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, yêu cầu xin ly hôn của anh Ổ có căn cứ, phù hợp quy định tại Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình.
Về con chung: Quá trình chung sống, anh Ổ và chị T có hai người con chung tên Phạm Khánh D, sinh ngày 01/4/2009 và Phạm Thị Ngọc H, sinh ngày 12/8/2010.
Xét yêu cầu nuôi con của anh Ổ thấy rằng: Hai cháu D và H hiện do anh Ổ nuôi dưỡng đã ổn định. Mặt khác, hai cháu D và H có nguyện vọng sống với anh Ổ khi cha mẹ ly hôn. Hơn nữa, chị T cũng không có ý kiến phản đối yêu cầu nuôi dưỡng hai cháu D và H của anh Ổ. Do đó, để đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của hai cháu D và H, Hội đồng xét xử thấy cần phải giao hai cháu D và H cho anh Ổ nuôi dưỡng theo quy định tại khoản 2 Điều 81 của Luật hôn nhân và gia đình.
Xét, anh Ổ không yêu cầu chị T cấp dưỡng nuôi hai cháu D và H nên Hội đồng xét xử không giải quyết, nếu sau này có yêu cầu thì khởi kiện bằng vụ án khác.
Về tài sản chung và nợ chung: Anh Ổ không yêu cầu Tòa án giải quyết, chị T không có ý kiến trình bày, nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
Về án phí: Anh Ổ phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng các điều 51, 56, 81 và 82 của Luật Hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận cho anh Phạm Văn Ổ ly hôn với chị Lê Thị Thanh T.
2. Về con chung: Giao hai cháu Phạm Khánh D, sinh ngày 01/4/2009 và Phạm Thị Ngọc H, sinh ngày 12/8/2010 cho anh Phạm Văn Ổ trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục.
Chị Lê Thị Thanh T có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung mà không ai được cản trở.
3. Án phí: Anh Phạm Văn Ổ phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm. Anh Ổ đã nộp 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí, theo biên lai thu số 0002091 ngày 28/11/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang. Vậy anh Ổ đã thi hành xong án phí.
4. Anh Ổ, chị T có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, để yêu cầu xét xử phúc thẩm.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Tiền Giang - VKSND huyện Cai Lậy; - Chi cục THADS huyện Cai Lậy; - Cơ quan thực hiện việc đăng ký kết hôn; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Công Vĩnh Đức |