- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Xuân-Thanh"
- Tòa quyết gì? Áp dụng: Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 273 của Bộ Luật tố tụng dân sự; Điều 51, Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 3…
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẮC BÌNH TỈNH BÌNH THUẬN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 23/2024/HNGĐ - ST Ngày: 22/5/2024 V/v:“Ly hôn, nuôi con chung” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẮC BÌNH, TỈNH BÌNH THUẬN
Với thành phần Hội đồng xét xử gồm có:
- Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Bà Thanh Nữ Kiều Oanh
- Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Bá Đình Tâm
2. Bà Phạm Thị Bích Lệ
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bắc Bình tham gia phiên tòa: Bà
Lê Thị Khánh Dung - Kiểm sát viên.
- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên toà: Ông Bá Văn Nhân - Cán bộ Tòa án nhân dân huyện Bắc Bình
Ngày 22 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bắc Bình, tỉnh Bình Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số: 427/2023/TLST-HNGĐ ngày 04 tháng 12 năm 2023 về việc: Ly hôn, nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 23/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 12 tháng 4 năm 2024 và quyết định hoãn phiên tòa số 16/2023/QĐST-HNGĐ, ngày 26/4/2024 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Huỳnh Thị Hà X, sinh năm 1995
Địa chỉ: Thôn T, xã P, huyện B, tỉnh Bình Thuận
Bị đơn: Anh Đặng Văn A, sinh năm 1988
Địa chỉ: Thôn B, xã H, huyện B, tỉnh Bình Thuận
Nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt; Bị đơn vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và quá trình điều tra thu thập chứng cứ nguyên đơn chị Huỳnh Thị Hà X trình bày:
Về hôn nhân: Chị với anh Đặng Văn A xác lập quan hệ vợ chồng vào
năm 2011 trên cơ sở tự nguyện tìm hiểu yêu thương nhau. Hai bên gia đình có tổ chức cưới hỏi cho vợ chồng chị. Năm 2012 vợ chồng có đến UBND xã Phan Thanh để đăng ký kết hôn.
Sau khi kết hôn vợ chồng vào thành phố làm thuê và sinh sống. Cuộc
sống chung vợ chồng sau khi xác lập quan hệ thì hạnh phúc một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn do anh Thanh thay đổi tính tình, cờ bạc, số đề, không phụ giúp chị về kinh tế để nuôi con cái, không có trách nhiệm với gia đình. Chị đã nhiều lần khuyên can nhưng anh Thanh vẫn không thay đổi, vì cuộc sống mưu sinh nên vợ chồng đi làm và gửi con cho mẹ chị nuôi nhưng mọi việc lớn nhỏ chỉ do một mình chị gách vác, anh Thanh không hề quan tâm hỏi han.
Cảm thấy vợ chồng không thế sống chung được nữa nên chị và anh Thanh
tự động chấm dứt sống chung từ đầu năm 2021 đến nay.
Gia đình chị biết vợ chồng mâu thuẫn nhưng không hòa giải cho vợ chồng,
ba mẹ anh Thanh thì đã mất.
Mục đích hôn nhân không đạt, vợ chồng không thể đoàn tụ nên chị yêu cầu Tòa án để giải quyết ly hôn với anh Đặng Văn A.
Về con chung: Vợ chồng có 02 con là Đặng Nữ Anh U – sinh ngày
23/5/2012 và Đặng Nữ Ánh E– sinh ngày 10/9/2020 hiện con đang ở với chị, chị yêu cầu được nuôi dưỡng và giáo dục các con chung đến khi trưởng thành, không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản và nợ chung: Không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Vì công việc làm thuê không thể xin nghỉ để tham gia phiên tòa sơ thẩm nên chị có đơn xin xét xử vắng mặt, ngoài ra chị không có yêu cầu gì khác.
Bị đơn anh Đặng Văn A: Anh Đặng Văn A không đến Tòa án theo giấy triệu tập, Tòa án đã tiến hành niêm yết các thủ tục theo quy định của Bộ luật tống tụng dân sự năm 2015.
Người làm chứng:
Bà Huỳnh Thị Năm trình bày: Bà là mẹ của chị Huỳnh Thị Hà X, anh Đặng Văn A là chồng của Xuân. Xuân và Thanh xác lập quan hệ vợ chồng trên cơ sở tự nguyện tìm hiểu yêu thương nhau, hai bên gia đình có tổ chức cưới hỏi cho vợ chồng vào năm 2011.
Năm 2012 vợ chồng có đến tại UBND xã Phan Thanh đăng ký kết hôn. Sau
khi xác lập quan hệ vợ chồng Xuân vào thành phố làm thuê và sinh sống.
Trong quá trình sống chung vợ chồng có xảy ra mâu thuẫn hay không thì
bà không rõ vì không nghe Xuân kể.
Năm 2021 vợ chồng Xuân xảy ra mâu thuẫn và không sống chung với nhau
nên Xuân có gọi nói cho bà nghe do Thanh cờ bạc, số đề không có trách nhiệm với gia đình.
Hai bên gia đình không có mâu thuẫn và biết chuyện nhưng không hòa giải
được cho vợ chồng, cha mẹ Thanh đã mất.
Theo bà Tòa án nên giải quyết cho Xuân và Thanh ly hôn vì vợ chồng
không còn hạnh phúc.
Về con chung: Vợ chồng có 02 con là Đặng Nữ Anh U – sinh ngày
23/5/2012 và Đặng Nữ Ánh E – sinh ngày 10/9/2020 hiện các cháu đang ở với bà, vì Xuân đi làm xa hàng tháng Xuân gửi tiền về cho bà để nuôi các cháu. Theo bà nên giao các con cho mẹ nuôi dưỡng đến khi trưởng thành.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Bắc Bình phát biểu ý kiến như sau:
1. Việc tuân theo pháp luật tố tụng
Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Hội đồng xét xử, Thư ký tại phiên tòa:
Tại phiên tòa hôm nay, HĐXX đã thực hiện nguyên tắc xét xử độc lập và chỉ tuân pháp luật đúng theo quy định tại Điều 12 BLTTDS, thành phần HĐXX đúng theo quyết định đưa vụ án ra xét xử, không có trường hợp phải từ chối hoặc phải thay đổi người tiến hành tố tụng. Về phần thủ tục bắt đầu phiên tòa cũng như phần thủ tục hỏi, phần tranh luận tại phiên tòa, HĐXX đã tuân theo đúng quy định của BLTTDS về việc xét xử sơ thẩm vụ án.
Thư ký phiên tòa đã tuân thủ theo đúng các quy định tại của Bộ luật tố tụng dân sự về việc xét xử sơ thẩm vụ án.
Việc tuân theo pháp luật tố tụng của người tham gia tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án:
Nguyên đơn đã thực hiện đúng, đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của pháp luật.
Bị đơn vắng mặt, không chấp hành theo giấy triệu tập của Tòa, vi phạm quy định tại Điều 70 BLTTDS năm 2015.
Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 238 BLTTDS năm 2015; Điều 51, Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật HNGĐ năm 2014; Nghị quyết số 326/2016/UBTV-QH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, tuyên xử:
Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
- Về hôn nhân: Cho chị Huỳnh Thị Hà X được ly hôn với anh Đặng Văn A.
- Về con chung: Giao con chung tên Đặng Nữ Anh U – sinh ngày 23/5/2012 và Đặng Nữ Ánh E – sinh ngày 10/9/2020 cho chị Huỳnh Thị Hà X tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng. Không ai được cản trở quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung sau khi ly hôn của anh Đặng Văn A. Chị Xuân không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nên không xem xét.
- Tài sản chung, nợ chung: Do đương sự không yêu cầu nên không xem xét giải quyết.
- Về án phí: Nguyên đơn chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa cũng như căn cứ vào kết quả tranh trụng tại phiên tòa, ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Bị đơn anh Đặng Văn A có hộ khẩu thường trú: Tại thôn Bình Hòa, xã Phan Hòa, huyện Bắc Bình, tỉnh Bình Thuận nên yêu cầu khởi kiện ly hôn của chị Huỳnh Thị Hà X thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Bắc Bình, được quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ Luật tố tụng dân sự năm 2015.
Xét yêu cầu khởi kiện của chị Huỳnh Thị Hà X, HĐXX nhận thấy: Quan hệ hôn nhân giữa chị Huỳnh Thị Hà X và anh Đặng Văn A được xác lập trên cơ sở tự nguyện có đăng ký kết hôn tại xã Phan Thanh, huyện Bắc Bình theo Giấy chứng nhận kết hôn số 88 ngày 28/12/2012 nên là hôn nhân hợp pháp, chị Xuân có đơn ly hôn nên áp dụng Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 để giải quyết.
Chị Xuân và anh Thanh xác lập quan hệ hôn nhân vào năm 2011 cuộc sống nhân thực tế giữa chị Xuân và anh Thanh đã xảy ra nhiều mâu thuẫn không thể hàn gắn được, quá trình chung sống anh Thanh không có sự thương yêu, quan tâm, chia sẻ, giúp đỡ chị Xuân cùng nhau chăm sóc gia đình, con cái nên vợ chồng đã sống ly thân một thời gian dài.
Tòa án tiến hành triệu tập, tổ chức hòa giải tuy nhiên anh Thanh không đến Tòa án để làm việc, hòa giải chứng tỏ anh Thanh cũng không còn muốn níu kéo, hàn gắn tình cảm, hôn nhân với chị Xuân.
Anh Thanh đã vi phạm nghĩa vụ của người chồng làm cho hôn nhân đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó có cơ sở chấp nhận yêu cầu của chị Xuân.
Về con chung: Vợ chồng 02 con chung là con là Đặng Nữ Anh U – sinh ngày 23/5/2012 và Đặng Nữ Ánh E – sinh ngày 10/9/2020, từ khi vợ chồng không sống chung năm 2021 chị Xuân là người nuôi dưỡng và chăm sóc các con chung và chị Xuân đủ điều kiện để nuôi con, nên Hội đồng xét xử giao cho chị Xuân tiếp tục nuôi dưỡng con chung đến khi trưởng thành.
Về mức cấp dưỡng và phương thức cấp dưỡng: Chị Xuân không có yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về tài sản và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí: Nguyên đơn phải nộp án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bắc Bình tại phiên tòa là có căn cứ nên chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng: Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 273 của Bộ Luật tố tụng dân sự; Điều 51, Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí về lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn.
Về hôn nhân: Chị Huỳnh Thị Hà X được ly hôn với anh Đặng Văn A.
Về con chung: Giao con chung con là Đặng Nữ Anh U – sinh ngày 23/5/2012 và Đặng Nữ Ánh E – sinh ngày 10/9/2020 cho chị Huỳnh Thị Hà X tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục đến khi trưởng thành, chị Xuân không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.
Người không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom và chăm sóc con chung, không ai được quyền cản trở. Trong trường hợp người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó. Vì lợi ích của con chung, khi cần thiết cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình có quyền yêu cầu Tòa án xem xét và quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con, việc cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản và nợ chung: Không yêu cầu nên không xem xét giải quyết.
Về án phí: Chị Huỳnh Thị Hà X phải nộp 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm nhưng được trừ vào 300.000 đồng tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm, chị Xuân đã nộp tại biên lai thu số 0001498, ngày 04/12/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bắc Bình, chị Huỳnh Thị Hà X đã nộp đủ án phí.
Về quyền kháng cáo: Án xử công khai vắng mặt nguyên đơn và bị đơn có quyền kháng cáo trong thời hạn là 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết công khai bản án.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - VKSND (Tỉnh, Huyện); - TAND tỉnh Bình Thuận; - Chi cục THADS huyện; - UBND xã Phan Thanh; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Thanh Nữ Kiều Oanh |