- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bản án hôn nhân"
- Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Phan Thị H đối với anh Trần Chí H1.
- Căn cứ chính? Điều 147 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 28 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 35 Luật Hôn nhân và gia đình
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN B TỈNH BẾN TRE | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 23/2024/HNGĐ-ST Ngày 27/3/2024 V/v: “Ly hôn và tranh chấp nuôi con” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN B, TỈNH BẾN TRE
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Đặng Mộng Tuyền
Các Hội thẩm nhân dân:Ông Nguyễn Trung Hiền
Bà Huỳnh Thị Bích Vân
- Thư ký phiên toà: Ông Đặng Hoàng Long – Thư ký Tòa án
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện B, tỉnh Bến Tre tham gia phiên tòa: Bà Dương Thy Trúc Phương – Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 3 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện B, tỉnh Bến Tre mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự sơ thẩm thụ lý số: 456/2023/TLST-HNGĐ ngày 15 tháng 11 năm 2023 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con”, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 18/2024/QĐST-HNGĐ ngày 15 tháng 02 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 07/ 2024/ QĐST – HNGĐ, ngày 06 tháng 3 năm 2024, giữa các đương sự:
* Nguyên đơn: Chị Phan Thị H, sinh năm 1991.
Địa chỉ: ấp B, xã P, huyện P, tỉnh An Giang.
* Bị đơn: Anh Trần Chí H1, sinh năm 1990.
Địa chỉ: Ấp T, xã B, huyện B, tỉnh Bến Tre.
(Nguyên đơn chị H có đơn xin vắng mặt, bị đơn anh H1 vắng mặt lần 2
không có lý do)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 11 tháng 10 năm 2023 nguyên đơn chị Phan Thị H trình bày:
Chị và anh Trần Chí H1 cưới nhau vào năm 2020 trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại UBND xã B vào ngày 14/5/2021. Sau khi cưới vợ chồng chung sống hạnh phúc đến đầu năm 2022 thì phát sinh mâu thuẩn do vợ chồng bất đồng quan điểm sống vợ chồng thường xuyên xảy ra cải vả về tiền bạc, vợ chồng không có tiếng nói chung, không có sự nhẫn nhịn nhau, không còn yêu thương nhau, dẫn đến cả hai đều cảm thấy mệt mỏi, bế tắc. Nay tình cảm không còn, không thể hàn gắn nên chị nộp đơn yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Trần Chí H1.
Về con chung: có 02 con chung là Trần Trâm A, sinh ngày 02/6/2021 và Trần Thùy A1, sinh ngày 02/6/2021, hiện đang sống cùng anh H1. Khi ly hôn, chị đồng ý để con chung cho anh H1 tiếp tục nuôi dưỡng, chị không cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung, nợ chung: không có.
Đối với bị đơn Trần Chí H1, Tòa án có tống đạt các thông báo cho anh Trần Chí H1 tham gia hòa giải, giải quyết vụ án theo yêu cầu khởi kiện của chị H nhưng anh H1 đều vắng mặt không có lý do, nên Tòa án không ghi nhận được ý kiến của anh H1 và vụ án không tiến hành hòa giải được.
Tại biên bản lấy lời khai người làm chứng bà Võ Thị Tú E, sinh năm 1970, địa chỉ ấp T, xã B, huyện B, tỉnh Bến Tre là mẹ ruột của bị đơn anh Trần Chí H1 trình bày: Anh H1 đều nhận được giấy mời của Tòa án và biết được yêu cầu của chị H nhưng bận công việc làm ăn nên không đến Tòa án giải quyết, vợ chồng anh H1 và chị H đã có mâu thuẩn và hiện nay đã sồng ly thân, theo yêu cầu xin ly hôn của chị H thì anh H1 cũng đồng ý ly hôn, vể con chung có 02 con chung là Trần Trâm A, sinh ngày 02/6/2021 và Trần Thùy A1, sinh ngày 02/6/2021, hiện đang sống cùng anh H1. Nếu ly hôn thì anh H1 cũng đồng ý tiếp tục nuôi con và anh H1 không yêu cầu cấp dưỡng. Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát:
Về tố tụng: Qua nghiên cứu hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa thấy rằng Thẩm phán đã tuân thủ và tiến hành đầy đủ trình tự, thủ tục tố tụng; thành viên Hội đồng xét xử thể hiện sự vô tư khách quan, độc lập khi xét xử; các đương sự thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật. Do đó, vụ án được đưa ra xét xử là đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung:
Về hôn nhân: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của Phan Thị H đối với anh Trần Chí H1. Về con chung: có 02 con chung là Trần Trâm A, sinh ngày 02/6/2021 và Trần Thùy A1, sinh ngày 02/6/2021, hiện đang sống cùng anh H1. Khi ly hôn, chị H đồng ý để con chung cho anh H1 tiếp tục nuôi dưỡng, chị không cấp dưỡng nuôi con chung, phía anh H1 không có ý kiến và không có yêu cầu gì về cấp dưỡng nuôi con nên đề nghị để con chung cho anh H1 tiếp tục nuôi dưỡng. Tài sản chung, nợ chung không có nên không xem xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Qua nghiên cứu toàn bộ các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và thẩm tra công khai các chứng cứ tại phiên tòa, Hội đồng xét xử xét thấy:
Về hôn nhân: Chị Phan Thị H và anh Trần Chí H1 kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại UBND xã B, huyện B, tỉnh Bến Tre vào ngày 14/5/2021 nên là hôn nhân hợp pháp. Trong quá trình chung sống, vợ chồng chung sống hạnh phúc được thời gian đầu, đến năm 2022 do bất đồng quan điểm sống nên vợ chồng hay cải vả nhau làm cuộc sống vợ chồng không còn hạnh phúc, hai bên không thể hòa giải, không thể khắc phục những mâu thuẫn nên mâu thuẫn ngày càng trầm trọng và không còn khả năng hàn gắn nên chị H xin ly hôn với anh H1. Trong quá trình tố tụng anh H1 biết được yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị H nhưng anh H1 không đến Tòa án để hòa giải giải quyết hay có ý kiến gì về yêu cầu ly hôn của chị H. Do đó, Hội đồng xét xử thấy rằng tình trạng hôn nhân của chị H và anh H1 đã mâu thuẫn trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài nên yêu cầu ly hôn của chị H là có căn cứ, phù hợp với quy định khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình nên được Hội đồng xét xử chấp nhận
Trong quá trình chung sống với nhau, anh chị có 02 con chung là Trần Trâm A, sinh ngày 02/6/2021 và Trần Thùy A1, sinh ngày 02/6/2021, hiện đang sống cùng anh H1. Khi ly hôn, chị H đồng ý để con chung cho anh H1 tiếp tục nuôi dưỡng, chị không cấp dưỡng nuôi con chung. Anh H1 cũng không có ý kiến hay yêu cầu gì về cấp dưỡng nuôi con, con chung đang sống ổn định với gia đình anh H1 và gia đình anh H1 cũng có ý kiến muốn tiếp tục nuôi 02 con chung, cũng không có ý kiến yêu cầu chị H cấp dưỡng nuôi 02 con chung nên xét yêu cầu của chị H là có căn cứ phù hợp với điều 81, 82 Luật Hôn nhân và gia đình nên được HĐXX chấp nhận.
Về tài sản chung, nợ chung: không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét .
Xét đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa là có căn cứ nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về án phí dân sự sơ thẩm: 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng), nguyên đơn chị H phải nộp theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Phan Thị H đối với anh Trần Chí H1.
2. Về con chung: Anh Trần Chí H1 được quyền tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục 02 con chung là Trần Trâm A, sinh ngày 02/6/2021 và Trần Thùy A1, sinh ngày 02/6/2021.
Chị Phan Thị H có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở. Trường hợp chị H lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì chị H2 có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con.
Vì lợi ích của con, hai bên có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con và cấp dưỡng nuôi con.
3. Về tài sản chung, nợ chung: Không có.
4. Về án phí dân sự sơ thẩm: Nguyên đơn chị H phải nộp 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tiền số 0001425 ngày 11/10/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện B. Chị H đã nộp xong án phí.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Báo cho nguyên đơn, bị đơn biết có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày tròn, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bến Tre xét xử phúc thẩm.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bến Tre; - VKSND huyện B; - Chị cụcTHADS huyện B; - UBND xã B; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ. | T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ (Đã ký) Đặng Mộng Tuyền |