- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Nguyễn Thị Bích Hồng vay tài sản"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Bích H đối với bà Phạm Thị Thúy N.
- Căn cứ chính? Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ QUẢNG NGÃI TỈNH QUẢNG NGÃI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 23/2024/DS-ST Ngày: 15-5-2024 V/v:“Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ QUẢNG NGÃI, TỈNH QUẢNG NGÃI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Na Na
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Mạnh Hùng
2. Bà Nguyễn Thị Xuân Thương
- Thư ký phiên tòa: Ông Đinh Văn Dương - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thùy T - Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 17/2024/TLST - DS ngày 12 tháng 01 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 101/2024/QĐXXST-DS ngày 11 tháng 4 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 93/2024/QĐST-DS ngày 26 tháng 4 năm 2024 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Bích H, sinh năm 1987;
Địa chỉ: Số G, T, phường T, thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi (vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt).
Bị đơn: Bà Phạm Thị Thúy N, sinh năm 1988;
Địa chỉ: Số E L, Tổ C, phường C, thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi (vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện đề ngày 13-12-2023 và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Nguyễn Thị Bích H trình bày:
Vì chỗ bạn bè quen biết, ngày 13/7/2023 bà Nguyễn Thị Bích H cho bị đơn chị Phạm Thị Thúy Ngọc m với số tiền 192.000.000đồng, có viết giấy nợ tiền và giấy xác nhận về việc nợ tiền. Giấy xác nhận về việc nợ tiền được Văn phòng công chứng Ngô Văn H1 công chứng. Mục đích mượn tiền để kinh doanh. Thời hạn trả nợ không quá 30 ngày kể từ ngày mượn. Lãi suất hai bên thoả thuận là 18%/năm tương ứng với 1,5%/tháng. Đến hạn trả nợ là cuối tháng 8/2023 bà H đã nhiều lần yêu cầu N phải trả tiền nhưng bà N không trả. Mãi đến ngày 15/11/2023 bà N trả cho H số tiền 43.000.000đồng (tiền gốc). Từ đó đến nay, N không trả tiền cho bà H. Tính đến ngày 13/12/2023 bà N còn nợ bà H số tiền gốc 149.000.000 đồng; tiền lãi từ ngày 01/8/2023 đến ngày 13/12/2023 là 11.175.000đồng. Tổng cộng 160.175.000đồng.
Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Bích H yêu cầu Toà án nhân dân Thành phố Quảng Ngãi giải quyết: Buộc bị đơn bà Phạm Thị Thúy N phải trả cho nguyên đơn bà Nguyễn Thị Bích H số tiền 160.175.000 đồng (trong đó: nợ gốc 149.000.000đồng; nợ lãi 11.175.000đồng).
Trong quá trình Toà án giải quyết vụ án, ngày 01-4-2024 nguyên đơn bà H đã có văn bản trình bày ý kiến xin thay đổi yêu cầu khởi kiện, cụ thể không yêu cầu bị đơn bà N phải trả cho bà H số tiền lãi tính từ ngày 01/8/2023 đến ngày 13/12/2023 là 11.175.000đồng. Nguyên đơn chỉ yêu cầu Tòa án buộc bị đơn bà N phải trả cho nguyên đơn số tiền nợ gốc 149.000.000đồng.
* Bị đơn chị Phạm Thị Thúy N trình bày: Bị đơn với nguyên đơn bà Nguyễn Thị Bích H có quan hệ là bạn bè, ngày 17-3-2023 bị đơn có mượn của bà H số tiền 192.000.000 đồng, có giấy mượn tiền và được công chứng chứng thực tại Văn phòng công chứng Ngô Văn H1, mục đích bị đơn vay tiền là để kinh doanh, lãi suất 18%/năm (1,5%/tháng) thời hạn trả nợ cuối tháng 8 năm 2023, đến ngày 15-11-2023 bị đơn đã trả cho bà H số tiền nợ gốc 43.000.000 đồng. Nay bị đơn còn nợ lại số tiền 149.000.000 đồng, nay nguyên đơn bà H khởi kiện bị đơn yêu cầu bị đơn trả số tiền nợ gốc 149.000.000 đồng, bị đơn có nợ và đồng ý trả nợ cho bà H với số tiền nợ gốc 149.000.000 đồng.
Tại phiên tòa ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Quảng Ngãi phát biểu như sau: Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng, đầy đủ quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng của nguyên đơn đã thực hiện đúng, đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định tại Điều 70, 71 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Bị đơn chưa chấp hành đúng quy định tại các điều 70, 72 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Về nội dung vụ án: Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, xét thấy bà N đã trả cho bà H số tiền 43.000.000 đồng nên còn nợ là 149.000.000 đồng, do cả hai bà đều thừa nhận nên đây là tình tiết không phải chứng minh. Do đó, yêu cầu khởi kiện của bà H buộc bà N phải trả 149.000.000 đồng là có căn cứ cần được chấp nhận. Đối với yêu cầu tính lãi, ngày 01-4-2024 bà H có văn bản trình bày là không yêu cầu tính lãi nên xét thấy là trường hợp rút một phần yêu cầu khởi kiện. Căn cứ các Điều 463, 466 470 của Bộ luật dân sự năm 2015; các Điều 26, 35, 39, 91, 147, 217, 244 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Bích H về việc yêu cầu bà Phạm Thị Thúy N phải trả 149.000.000 đồng. Đình chỉ đối với yêu cầu tính lãi của nguyên đơn, bà N phải chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng:
Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Bích H có đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn bà Phạm Thị Thúy N phải trả tiền vay cho nguyên đơn. Do đó, Tòa án nhân dân thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi thụ lý vụ án và xác định quan hệ tranh chấp “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo quy định tại khoản 3 Điều 26 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Đồng thời tiến hành giải quyết, xét xử vụ án theo thẩm quyền được quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
[1.2] Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Bích H và bị đơn bà Phạm Thị Bích N1 đều có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ quy định tại khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn bà Nguyễn Thị Bích H và bị đơn bà Phạm Thị Thúy N.
Trước khi mở phiên toà, nguyên đơn đã thay đổi một phần yêu cầu khởi kiện, không yêu cầu bị đơn bà N phải trả số tiền 11.175.000 đồng tiền lãi theo đơn khởi kiện của nguyên đơn. Nguyên đơn chỉ còn yêu cầu Tòa án buộc bị đơn trả số tiền nợ gốc còn lại là 149.000.000 đồng. Hội đồng xét xử thấy rằng việc thay đổi một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn không vượt quá phạm vi khởi kiện ban đầu. Căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 244 Bộ luật tố tụng dân sự, chấp nhận việc thay đổi một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Về nội dung: Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Bích H, buộc bị đơn bà Phạm Thị Thúy N có nghĩa vụ trả cho nguyên đơn số tiền nợ gốc 149.000.000 đồng theo giấy nợ ngày 13-7-2023, Hội đồng xét xử thấy rằng:
Giấy nợ tiền đề ngày 13-7-2023 có chữ ký của bà Phạm Thị Thúy N bên nợ tiền và chữ ký của bà Nguyễn Thị Bích H bên cho nợ tiền và nội dung trong giấy (bên A) bà Phạm Thị Thúy N mượn 192.000.000 đồng của (bên B) bà Nguyễn Thị Bích H và G xác nhận về việc nợ tiền của bà Phạm Thị Thúy N được Văn phòng C chứng thực, số công chứng 07309, quyển số 07/2023/TP/CC-SCC/HĐGD ngày 13-7-2023, đủ căn cứ xác định giấy nợ tiền và Giấy xác nhận về việc nợ tiền của bà Phạm Thị Thúy N là Hợp đồng vay tài sản được quy định tại Điều 463 Bộ luật dân sự năm 2015.
Nguyên đơn bà H xác nhận tính đến ngày 15/11/2023 bị đơn bà N đã trả cho nguyên đơn với số tiền 43.000.000 đồng (tiền gốc). Số tiền gốc còn lại bị đơn bà N chưa trả còn nợ lại nguyên đơn là 149.000.000 đồng. Còn Bị đơn bà N đã có bản tự khai đề ngày 13 tháng 5 năm 2024 xác nhận còn nợ bà H 149.000.000 đồng nợ gốc, bà N đồng ý trả số tiền 149.000.000 đồng cho bà H. Căn cứ quy định tại khoản 2 Điều 92 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử xác định bị đơn bà N nợ nguyên đơn bà H số tiền 149.000.000 đồng.
Theo Giấy nợ tiền đề ngày 13-7-2023 và Giấy xác nhận về việc nợ tiền của nguyên đơn bà Phạm Thị Thúy N được Văn phòng C chứng thực, số công chứng 07309, quyển số 07/2023/TP/CC-SCC/HĐGD ngày 13-7-2023, thời hạn bà N phải trả hết nợ gốc cho bà H 192.000.000 đồng và nợ lãi là cuối tháng 8 (ngày 30) năm 2023. Nhưng đến nay bị đơn bà N chưa trả cho nguyên đơn bà H số tiền nợ gốc 149.000.000 đồng là vi phạm nghĩa vụ trả tiền theo như cam kết của bà là vi phạm quy định tại Điều 463; Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015. Nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Bích H buộc bị đơn bà Phạm Thị Thúy N có nghĩa vụ trả cho bà Nguyễn Thị Bích H số tiền nợ gốc 149.000.000đồng.
Về án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ Điều 147 và Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2014 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc bà Phạm Thị Thúy N phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 7.450.000 đồng (149.000.000 đồng x 5%).
Xét ý kiến của Kiểm sát viên tại phiên tòa, về việc đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bị đơn trả cho nguyên đơn số tiền 149.000.000 đồng và bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận. Riêng ý kiến đề nghị về nội dung đình chỉ đối với yêu cầu tính lãi của nguyên đơn là chưa phù hợp theo quy định tại khoản 1 Điều 244 Bộ luật tố tụng dân sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 91, Điều 92, khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228, các Điều 144, 147, 235, 244, 266, 271 và 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ Điều 463; 466 và 470 Bộ luật dân sự năm 2015.
Căn cứ Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Bích H đối với bà Phạm Thị Thúy N.
Buộc bà Phạm Thị Thúy N phải có nghĩa vụ trả cho bà Nguyễn Thị Bích H số tiền nợ gốc 149.000.000 đồng (Một trăm bốn mươi chín triệu đồng).
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
2. Về án phí dân sự sơ thẩm:
- Bà Phạm Thị Thúy N phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 7.450.000 đồng (Bảy triệu, bốn trăm năm mươi nghìn đồng).
- Bà Nguyễn Thị Bích H không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả lại cho bà Nguyễn Thị Bích H số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 4.004.375 đồng (Bốn triệu, không trăm không bốn nghìn, ba trăm bảy mươi lăm đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí số 0001474 ngày 11-01-2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi.
3. Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Quảng Ngãi; - VKSND TP Quảng Ngãi; - Chi Cục THADS TP Quảng Ngãi; - Các đương sự; - Lưu: Hồ sơ, án văn. CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN N3 CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Phước Đạt Lê Thị Huyền T1 | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Lê Thị Na Na THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thị Na N2 |