- Tranh chấp gì? án hình sự — "Hình sự sơ thẩm - phạm tội cướp giật tài sản (điều 171 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Điểm đ khoản 2 Điều 171; Điểm a khoản 1 Điều 173; Điểm b, h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 55 và Điều 56 Bộ luật hình sự;
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAM RANH TỈNH KHÁNH HÒA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 23/2023/HSST Ngày 22-3-2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAM RANH, TỈNH KHÁNH HOÀ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phùng Văn Thức
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Võ Thị Diệu Thảo
Ông Cao Nho Dũng
- Thư ký phiên toà: Bà Trần Thị Thanh Huyền – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Cam Ranh, tỉnh Khánh Hòa.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cam Ranh tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Đình Thảo - Kiểm sát viên
Ngày 22 tháng 3 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cam Ranh – tỉnh Khánh Hòa, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 14/2023/HSST ngày 13 tháng 02 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 21/2023/QĐXXST-HS ngày 28 tháng 02 năm 2023, đối với bị cáo:
Họ và tên: Huỳnh Xuân T - sinh ngày 14 tháng 6 năm 1992 tại Cam Ranh, tỉnh Khánh Hòa; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nơi đăng ký nhân khẩu thường trú: Tổ dân phố Linh Tr, phường Cam L, thành phố Cam R, tỉnh Khánh H; Trình độ văn hóa: 9/12; Nghề nghiệp: Không; Con ông: Huỳnh Văn X và bà: Phạm Thị T; Có vợ, con: Chưa. Tiền án: Không; Tiền sự: Ngày 15 tháng 3 năm 2021, bị Công an thành phố Cam Ranh xử phạt 1.500.000 đồng về hành vi “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”; Nhân thân: Ngày 29 tháng 4 năm 2021, bị Tòa án nhân dân thành phố Cam Ranh xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 06 tháng 4 năm 2021, tạm giam từ ngày 08/4/2021 đến nay, có mặt tại phiên tòa.
Bị hại:
1. Bà Nguyễn Thị M, sinh năm: 1965; Nơi cư trú: Tổ dân phố Phú S, phường Cam Ph, thành phố Cam R, tỉnh Khánh H. Vắng mặt tại phiên tòa.
2. Bà Nguyễn Thị Hồng M, sinh năm: 1971; Nơi cư trú: Tổ dân phố Thuận L, phường Cam Th, thành phố Cam R, tỉnh Khánh H. Vắng mặt tại phiên tòa.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Ông Huỳnh Văn X, sinh năm: 1967; Nơi cư trú: Tổ dân phố Linh Tr, phường Cam L, thành phố Cam R, tỉnh Khánh H. Có mặt tại phiên tòa.
2. Ông Nguyễn Phan Đăng Nh, sinh năm: 1995; Nơi cư trú: Tổ dân phố Đá B, phường Cam , thành phố Cam R, tỉnh Khánh H. Có mặt tại phiên tòa.
Người làm chứng:
1. Bà Nguyễn Phạm Thị Trúc Ph, sinh năm: 1984; Nơi cư trú: Tổ dân phố Lợi H, phường Cam L, thành phố Cam R, tỉnh Khánh H. Vắng mặt tại phiên tòa.
2. Bà Trần Thị H, sinh năm: 1967; Nơi cư trú: Tổ dân phố Thuận Th, phường Cam Th, thành phố Cam R, tỉnh Khánh H. Vắng mặt tại phiên tòa.
3. Ông Nguyễn Hoàng H, sinh năm: 1989; Nơi cư trú: Tổ dân phố Thuận L, phường Cam Th, thành phố Cam R, tỉnh Khánh H. Vắng mặt tại phiên tòa.
4. Bà Ngô Thị V, sinh năm: 1976; Nơi cư trú: Tổ dân phố Thuận H, phường Cam Th, thành phố Cam R, tỉnh Khánh H. Vắng mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 13 giờ ngày 06 tháng 4 năm 2021, Huỳnh Xuân T điều khiển xe mô tô chở Nguyễn Phan Đăng Nh đến quán cà phê TiChi, đường Tố Hữu thuộc tổ dân phố Thuận L, phường Cam Th, thành phố Cam R. Tại đây, T thấy bà Nguyễn Thị M cùng những người khác đang chơi bài, trên bàn để tiền. T nảy sinh ý định chiếm đoạt số tiền này.
Khoảng 14 giờ cùng ngày, T điều khiển xe mô tô chở Nh đến nhà bà Nguyễn Thị Hồng M ở tổ dân phố Thuận L, phường Cam Th, thành phố Cam R. Tại đây, Nh đứng ngoài, T vào trong sân nhà lấy trộm 01 cây gắp đá giấu vào túi quần. Sau đó, T và Nh đi vào quán cà phê TiChi. Lúc này, Nh đứng ngoài, T đi đến vị trí bàn bà M đang ngồi, dùng tay gạt điện thoại ra rồi lấy 430.000 đồng bỏ đi. Bà M đuổi theo, giằng co, giữ T, yêu cầu T trả lại tiền. T dùng cây gắp đá đe dọa đánh bà M. Thấy vậy, bà Ngô Thị V kéo áo T lại thì Nh đẩy bà V, bà M ra rồi cả hai bỏ đi.
T điều khiển xe mô tơ chở Nh đến cây xăng 21 thuộc phường Cam Lộc để đổ xăng. Tại đây, T vứt cây gắp đá. Lúc này, Nh hỏi T chuyện trong quán thì T nói lúc nãy lấy tiền của bà M. Nh nói đi trả lại. T điều khiển xe chở Nh quay lại quán trả tiền thì bà M nói “Tao cho mày luôn đó”. Sau đó, Nh xin T 30.000 đồng (là số tiền riêng của T) để chơi game; Số tiền 430.000 đồng T tiêu sài và mua ma túy sử dụng hết.
Tại Bản kết luận định giá tài sản số: 49/HĐĐG ngày 27 tháng 4 năm 2021 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Cam Ranh kết luận: 01 cây gắp đá Inox, màu trắng, uốn cong, đầu có răng cửa dài 22cm, trị giá 5.000 đồng.
Tại Bản cáo trạng số 18/CT-VKSCR-HS ngày 13 tháng 02 năm 2023, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cam Ranh đã truy tố bị cáo Huỳnh Xuân T về tội “Cướp giật tài sản” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 171 và tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Huỳnh Xuân T đề nghị áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 171, điểm a khoản 1 Điều 173, điểm b, h, s khoản 1 Điều 51 Điều 55, Điều 56 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo Huỳnh Xuân T, đề nghị xử phạt bị cáo từ 06 đến 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” và từ 3 năm đến 4 năm tù về tội “Cướp giật tài sản”. Tổng hợp hình phạt theo quy định.
Về vật chứng vụ án: Sung quỹ số tiền 10.000 đồng thu giữ của Nguyễn Phan Đăng Nh đang nộp vào số tài khoản của Công an thành phố Cam Ranh tại Kho bạc Nhà nước thành phố Cam Ranh.
Về dân sự: Bị hại bà Nguyễn Thị M đã được bồi thường 430.000 đồng không yêu cầu bồi thường thiệt hại gì thêm; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Huỳnh Văn X đã nhận lại tài sản, không yêu cầu bồi thường thiệt hại; bị hại Nguyễn Thị Hồng M không yêu cầu bồi thường thiệt hại nên không xem xét.
Tại phiên tòa, bị cáo Huỳnh Xuân T thừa nhận hành vi phạm tội xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về thủ tục tố tụng: Trong quá trình điều tra truy tố xét xử; Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã tuân thủ và thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện hợp pháp.
Trong hồ sơ và tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với lời khai của người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng và các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Như vậy đủ căn cứ để kết luận: Huỳnh Xuân T là người đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản; khoảng 14 giờ 05 phút ngày 06 tháng 4 năm 2021, T có hành vi trộm cắp 01 cây gắp đá, trị giá 5.000 đồng của bà Nguyễn Thị Hồng M ở tổ dân phố Thuận L, phường Cam Th, thành phố Cam R, tỉnh Khánh H. Đến khoảng 14 giờ 17 phút cùng ngày, tại quán cà phê TiChi ở tổ dân phố Thuận Lợi, phường Cam Thuận, thành phố Cam Ranh, tỉnh Khánh Hòa; T có hành vi dùng tay gạt điện thoại giật lấy số tiền 430.000 đồng của bà Nguyễn Thị M. Khi bị bà M đuổi theo yêu cầu trả lại tiền thì T dùng cây gắp đá đe dọa, hành hung để tẩu thoát. Do đó, hành vi của bị cáo Huỳnh Xuân T đủ cơ sở cấu thành tội “Cướp giật tài sản” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 171 và tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự. Quyết định truy tố của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cam Ranh đối với bị cáo Huỳnh Xuân T là có căn cứ, đúng pháp luật.
Đối với Huỳnh Xuân T khai nhận mua ma tuý để sử dụng của một người tên Minh đen ở khu vực Bưu điện thành phố Cam Ranh. Cơ quan điều tra chưa làm rõ được nên tiếp tục điều tra xử lý sau.
Đối với Nguyễn Phan Đăng Nh không biết Huỳnh Xuân T trộm cắp cây gắp đá của bà M và không biết rõ việc Tây chiếm đoạt tiền của bà M nên không truy cứu trách nhiệm hình sự.
Đối với ông Huỳnh Văn X có hành vi cho Huỳnh Xuân T mượn xe mô tô 79K1-5271 nhưng không biết T sử dụng xe mô tô để thực hiện hành vi phạm tội nên không truy cứu trách nhiệm hình sự.
Hành vi của bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm tài sản của người khác; gây mất trật tự, trị an địa phương. Do đó, cần phải xử lý nghiêm minh, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.
Tuy nhiên, trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải. Bị cáo phạm tội nhưng gây thiệt hại không lớn. Tác động người nhà tự nguyện bồi thường cho bị hại và được người bị hại viết đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Vì vậy, cần giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo, để bị cáo thấy được sự khoan hồng của pháp luật mà an tâm cải tạo trở thành người công dân tốt.
Tổng hợp hình phạt tù chưa chấp hành theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật hình sự.
Về vật chứng vụ án: Đối với số tiền 10.000 đồng thu giữ của Nguyễn Phan Đăng Nh nộp vào số tài khoản của Công an thành phố Cam Ranh tại Kho bạc Nhà nước thành phố Cam Ranh có nguồn gốc xin tiền riêng của T không phải số tiền do phạm tội mà có, tuy nhiên tại phiên tòa Nh không yêu cầu trả lại nên sung quỹ Nhà nước.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại bà Nguyễn Thị M đã được bồi thường, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Huỳnh Văn X đã nhận lại tài sản, không yêu cầu bồi thường và bị hại bà Nguyễn Thị Hồng M không có yêu cầu bồi thường nên không xét.
Về án phí: Bị cáo Huỳnh Xuân T phải nộp án phí Hình sự sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào:
- Điểm đ khoản 2 Điều 171; Điểm a khoản 1 Điều 173; Điểm b, h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 55 và Điều 56 Bộ luật hình sự;
- Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;
- Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
2. Tuyên bố: Bị cáo Huỳnh Xuân T phạm tội “Cướp giật tài sản” và “Trộm cắp tài sản”.
Xử phạt: Bị cáo Huỳnh Xuân T 06 (Sáu) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”; 04 (Bốn) năm tù về tội “Cướp giật tài sản”. Tổng hợp hình phạt 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng tù về hành vi “Trộm cắp tài sản” theo Bản án số 28/2021/HSST ngày 29 tháng 4 năm 2021 của Tòa án nhân dân thành phố Cam Ranh, tỉnh Khánh Hòa, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung là 06 (Sáu) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính ngày 06/4/2021.
3. Về vật chứng vụ án: Tịch thu sung quỹ Nhà nước 10.000 (Mười nghìn) đồng theo Giấy nộp tiền ngày 06 tháng 5 năm 2021 tại Ngân hàng Thương mại cổ phần Công Thương Việt Nam (phòng giao dịch Cam Ranh) của tên người nộp Mai Văn Duẩn (Công an TP. Cam Ranh) vào số tài khoản 3949.0.9041629.0000 của Kho bạc Nhà nước thành phố Cam Ranh, nội dung nộp: Nộp tiền vật chứng vụ “Cướp tài sản” xảy ra ngày 06/4/2021 tại TDP Thuận Lợi, Cam Thuận, Cam Ranh.
4. Về án phí: Bị cáo Huỳnh Xuân T phải nộp 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí Hình sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Bị hại vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Khánh Hòa. - VKSND tỉnh Khánh Hòa. - Sở tư pháp tỉnh Khánh Hòa - VKSND TP. Cam Ranh. - Chi cục THADS TP. Cam Ranh. - Công an TP. Cam Ranh. - Bị cáo. - Các đương sự. - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Phùng Văn Thức |