- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lò Văn Túng - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Căn cứ chính? Điều 251 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TAND HUYỆN NẬM NHÙN TỈNH LAI CHÂU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 23/2023/HSST Ngày 25-7-2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NẬM NHÙN, TỈNH LAI CHÂU
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông: Đồng Văn Dũng
- Các hội thẩm nhân dân: 1. Bà: Phan Thị Hồng
2. Ông: Phan Văn Thóc
- Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Ông: Lý Văn Thắng - Thư ký Toà án nhân dân huyện Nậm Nhùn, tỉnh Lai Châu.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nậm Nhùn, tỉnh Lai Châu tham gia phiên toà: Ông: Lò Văn Nhiệm - Kiểm sát viên.
Trong ngày 25/7/2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Nậm Nhùn, tỉnh Lai Châu xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 24/2023/HSST ngày 29/6/2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 25/2023/QĐXXST-HS ngày 13/7/2023 đối với bị cáo:
Họ và tên: Lò Văn T; tên gọi khác: Không; giới tính: Nam; sinh năm 1996; Nơi sinh: Huyện Nậm Nhùn, tỉnh Lai Châu; Nơi cư trú: Bản Nậm Cầy, xã Nậm Hàng, huyện Nậm Nhùn, tỉnh Lai Châu; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Thái; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Làm ruộng; Trình độ học vấn: 9/12; Con ông Lò Văn V, đã chết và con bà Lò Thị V, đã chết; Gia đình có 04 anh, chị, em, bị cáo là con thứ tư trong gia đình; Vợ: Tòng Thị S, sinh năm 2000; con: Có 01 con, sinh năm 2018; Tiền án; tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 28/3/2023, hiện bị cáo đang tạm giam tại nhà tạm giữ Công an huyện Nậm Nhùn. (Có mặt tại phiên tòa).
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
+ Anh: Lò Văn C - Sinh năm 1996
Trú tại: Bản Nậm Cầy, xã Nậm Hàng, huyện Nậm Nhùn, tỉnh Lai Châu (Vắng mặt tại phiên toà không rõ lý do).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 18 giờ ngày 26/3/2023 Lò Văn T đi bộ một mình từ nhà ra khu vực cầu Nậm Nàn, thuộc thị trấn Nậm Nhùn, tại đây, T gặp và mua được của người đàn ông không rõ nhân thân 01 gói Heroine với giá 750.000 đồng. Nhận Heroine T cất giấu trong người rồi đi về nhà.
Khoảng 23 giờ 30 phút, ngày 27/3/2023. Lò Văn T đang ở nhà thì có Lò Văn C, sinh năm 1996, trú tại: Bản Nậm Cầy, xã Nậm Hàng, huyện Nậm Nhùn, tỉnh Lai Châu đến nhà hỏi mua Heroine với số tiền 200.000 đồng. T chỉ đồng ý bán cho C 100.000 đồng. C đưa cho T 200.000 đồng. Nhận tiền, T lấy gói Heroine từ trong túi áo khoác đang mặc trên người tách lấy một ít đưa cho C đồng thời trả lại tiền thừa cho C 100.000 đồng. Số Heroine còn lại T gói lại và cất giấu vào trong túi áo khoác đang mặc trên người đi ra bếp hút thuốc lào, còn C làm gì T không biết. Khi C đang sử dụng trái phép ma túy bằng hình thức hít tại nhà T thì bị Công an huyện Nậm Nhùn phát hiện, lập biên bản vi phạm hành chính, thu giữa: 01 bật lửa ga màu đỏ; 01 mảnh giấy bạc bị đốt cháy thành màu đen; 01 tờ tiền mệnh giá 100.000 đồng. Lò Văn C khai số ma túy vừa sử dụng xong là do mua của T. Trên cơ sở lời khai của C, ngày 28/3/2023, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Nậm Nhùn đã tiến hành khám xét khẩn cấp người, nơi ở đối với Lò Văn T. Quá trình khám xét, Lò Văn T đã tự giác giao nộp 01 gói Heroine bên ngoài được gói bằng mảnh nilon màu hồng; 01 tờ tiền mệnh giá 200.000 đồng (Trong đó có 100.000 đồng tiền bán Heroine cho C). Tổ công tác đã tiến hành lập biên bản bắt giữ người trong trường hợp khẩn cấp và niêm phong vật chứng như đã nêu trên.
Ngày 28/3/2023, Cơ quan CSĐT Công an huyện Nậm Nhùn đã tiến hành thành lập hội đồng mở niêm phong, xác định khối lượng, lấy mẫu vật gửi đi giám định và niêm phong lại vật chứng. Tại kết luận giám định tư pháp theo vụ việc số 15 ngày 28/3/2023 kết luận: Số chất bột, màu trắng thu giữ của Lò Văn T có khối lượng 2,55 (Hai phẩy năm năm) gam, trích 0,19 gam gửi giám định tại Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lai Châu.
Tại bản kết luận giám định số 374/GĐ-KTHS ngày 30/3/2023 của Phòng Kỹ thuật Hình sự Công an tỉnh Lai Châu kết luận: 01 (một) Mẫu chất bột, màu trắng thu giữ của Lò Văn T gửi giám định là ma túy, loại Heroine, có tên khoa học là Diacetylmorphine, được quy định tại Bộ luật hình sự 2015 (sữa đổi bổ sung năm 2017) và Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất. (không hoàn lại mẫu vật gửi giám định).
Bản Kết luận giám định số: 375/GĐ-KTHS, ngày 30/3/2023 của Phòng Kỹ thuật Hình sự Công an tỉnh Lai Châu. Kết luận: 01 (một) tờ tiền Việt Nam mệnh giá 200.000 đồng có mã số hiệu: LL19451103 gửi giám định là tiền thật. (hoàn lại mẫu vật gửi giám định).
Tại bản Cáo trạng số: 16/CT-VKS ngày 29 tháng 6 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Nậm Nhùn, tỉnh Lai Châu đã truy tố bị cáo Lò Văn T về tội "Mua bán trái phép chất ma tuý" theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luậthình sự. Khoản 1 Điều 251 BLHS năm 2015 quy định:
1. Người nào mua bán trái phép chất ma túy, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm. …..
5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại về Bản kết luận điều tra và Bản cáo trạng nêu trên.
Tại phiên tòa, vị đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội danh và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1, khoản 5 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự đối với bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử, xử phạt bị cáo từ 03 năm đến 03 năm 06 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho bị cáo và xử lý vật chứng theo quy định của pháp luật.
Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung Bản cáo trạng, không có ý kiến tranh luận đối với quan điểm luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nậm Nhùn.
Tại lời nói sau cùng bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[ 1] Về hành vi, Quyết định của Cơ quan điều tra huyện Nậm nhùn, Điều tra viên. Cơ quan Viện kiểm sát huyện Nậm nhùn, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, Quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về hành vi phạm tội của bị cáo tại phiên tòa hôm nay bị cáo khai nhận tội, lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với tang vật vụ án và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án cũng như nội dung bản cáo trạng, bị cáo thừa nhận đã truy tố đối với bị cáo là đúng người, đúng tội không oan sai.
Về Lời khai của bị cáo: Trong quá trình điều tra vụ án và tại phiên tòa ngày hôm nay bị cáo khai nhận rằng, khi khai nhận trước Cơ quan điều tra, bị cáo không hề bị bức cung, nhục hình; các biên bản lấy lời khai, biên bản hỏi cung của Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát, bị cáo được nghe đọc lại và tự nguyện ký nhận và bị cáo thừa nhận hành vi bán trái phép 01 (một) gói Heroine cho Lò Văn C thu số tiền 100.000 đồng (một trăm nghìn đồng) để kiếm lời, ngoài ra bị cáo còn cất giấu 01 (một) gói Heroine có khối lượng 2,55 (hai phẩy năm năm) gam nhằm mục đích sử dụng và bán kiếm lời. Hội đồng xét xử thấy rằng: Lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra là tự nguyện, khách quan; biên bản, tài liệu điều tra được thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.
Xét quan điểm luận tội của Kiểm sát viên và ý kiến của bị cáo. HĐXX thấy rằng: Tại phiên tòa hôm nay, Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nậm Nhùn tham gia phiên tòa đã đưa ra các căn cứ chứng minh về hành vi phạm tội của bị cáo căn cứ vào các tài liệu chứng cứ đã thu thập có trong hồ sơ, căn cứ kết quả mở niêm phong xác định khối lượng lấy mẫu vật gửi đi giám định. Bản kết luận giám định số 374/GĐ-KTHS ngày 30/3/2023 của Phòng Kỹ thuật Hình sự Công an tỉnh Lai Châu kết luận đối với mẫu vật thu giữ của bị cáo là ma túy, loại Heroine. Các lời khai nhận tội của bị cáo tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bởi vì những quan điểm này phù hợp với những tài liệu chứng cứ đã được thu thập có trong hồ sơ vụ án cùng lời nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hôm nay đã cho thấy: Khoảng 23 giờ 30 phút, ngày 27/3/2023, tại nhà ở của mình, thuộc bản Nậm Cầy, xã Nậm Hàng, huyện Nậm Nhùn, tỉnh Lai Châu. Lò Văn T đã bán trái phép 01 gói Heroine với giá 100.000 đồng cho Lò Văn C. Số Heroine còn lại 2,55 gam T tàng trữ trái phép với mục đích để sử dụng và bán kiểm lời thì bị phát hiện, thu giữ. Do đó Hội đồng xét xử kết luận bị cáo Lò Văn T đã phạm tội:“Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 BLHS.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy bản thân bị cáo là người dân tộc thiểu số, sinh sống ở vùng sâu, vùng xa của huyện Nậm Nhùn và tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên toà hôm nay, bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Bản thân bị cáo có trình độ học vấn thấp nên nhận thức về pháp luật còn hạn chế. Đây là những tình tiết xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự.
Trên cơ sở tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, xét thấy cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định để răn đe, giáo dục, cải tạo bị cáo thành công dân có ích cho xã hội.
Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 251 Bộ luật hình sự bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung. Tuy nhiên, theo các tài liệu chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa đều cho thấy bị cáo nghề nghiệp làm ruộng, điều kiện kinh tế gia đình khó khăn, thu nhập không ổn định. Do đó, Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về vật chứng của vụ án:
Đối với 2,36 gam Heroine và vỏ bì sau khi mở niêm phong được đựng trong một phong bì thư do Công an huyện Nậm Nhùn lưu hành. Mặt trước của bì niêm phong có ghi: Vật chứng còn lại và vỏ bì niêm phong sau khi mở niêm phong của Lò Văn T, sinh năm 1996, trú tại bản Nậm Cầy, xã Nậm Hàng, huyện Nậm Nhùn, tỉnh Lai Châu. Mặt sau của bì niêm phong các mép được dán kín, trên mép dán của bì niêm phong dùng mảnh giấy trắng dán đè lên, có thể hiện chữ ký, họ và tên của Lò Văn Ví, Vũ Mạnh Hiếu, Đặng Hồng Hạnh, Nguyễn Thành Đạt, Lò Đại Khánh, Lò Văn T và đóng 02 hình dấu tròn đỏ của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Nậm Nhùn, tỉnh Lai Châu ở hai đầu mép dán; 01 (một) bật lửa màu đỏ (đã qua sử dụng) thu giữ của Lò Văn C; 01 (một) mảnh giấy bạc đã bị đốt cháy thành màu đen thu giữ của Lò Văn C; xét thấy cần tịch thu tiêu hủy theo Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Số tiền 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) có mã số hiệu LL 19451103 thu giữ của Lò Văn T ( Trong đó: Có 100.000 đồng là tiền do Lò Văn T phạm tội mà có nên cần tịch thu sung Ngân sách Nhà nước; còn lại số tiền 100.000 đồng không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo nên cần xem xét trả lại cho bị cáo theo quy định tại Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Những vấn đề liên quan:
Theo lời khai của bị cáo Lò Văn T: Nguồn gốc số ma túy nêu trên là do bị cáo mua được với một người đàn ông không rõ lai lịch tại khu vực cầu Nậm Nàn, thuộc thị trấn Nậm Nhùn vào ngày 26 tháng 3 năm 2023 với số tiền 750.000 đồng. Kết quả điều tra không xác định được lai lịch của người đàn ông này nên không có căn cứ xử lý theo quy định của pháp luật.
Đối với số tiền 100.000 đồng thu giữ của Lò Văn C, quá trình điều tra xác định số tiền trên không liên quan đến hành vi phạm tội, nên ngày 20/6/2023 Cơ quan CSĐT Công an huyện Nậm Nhùn ra Quyết định xử lý vật chứng số 04/QĐ trả lại số tiền 100.000 đồng cho chủ sở hữu hợp pháp là Lò Văn C theo đúng quy định.
Việc Lò Văn C tự ý sử dụng ma túy tại nhà Lò Văn T, T không biết nên Lò Văn T không phạm tội “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại Điều 256 Bộ luật Hình sự.
Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Lò Văn C, Công an huyện Nậm Nhùn đã ra quyết định xử phạt hành chính bằng hình thức cảnh cáo là đúng quy định của pháp luật. Đối với các hành vi nêu trên trong vụ án này HĐXX không đặt vấn đề giải quyết.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH;
Căn cứ vào khoản 1, khoản 5 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 2 Điều 106; Điều 135; khoản 2 Điều 136; Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lò Văn T phạm tội "Mua bán trái phép chất ma túy".
2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Lò Văn T 03 (Ba) năm 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 28/3/2023.
Miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho bị cáo.
3/ Về vật chứng của vụ án:
Tịch thu tiêu hủy: 2,36 (hai phẩy ba mươi sáu) gam Heroine còn lại sau khi gửi đi giám định thu giữ của Lò Văn T và vỏ bì sau khi mở niêm phong được đựng trong một phong bì thư do Công an huyện Nậm Nhùn lưu hành Mặt trước của bì niêm phong có ghi: Vật chứng còn lại và vỏ bì niêm phong sau khi mở niêm phong của Lò Văn T, sinh năm 1996, trú tại bản Nậm Cầy, xã Nậm Hàng, huyện Nậm Nhùn, tỉnh Lai Châu. Mặt sau của bì niêm phong các mép được dán kín, trên mép dán của bì niêm phong dùng mảnh giấy trắng dán đè lên, có thể hiện chữ ký, họ và tên của Lò Văn Ví, Vũ Mạnh Hiếu, Đặng Hồng Hạnh, Nguyễn Thành Đạt, Lò Đại Khánh, Lò Văn T và đóng 02 hình dấu tròn đỏ của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Nậm Nhùn, tỉnh Lai Châu ở hai đầu mép dán; 01 (một) bật lửa màu đỏ (đã qua sử dụng) thu giữ của Lò Văn C; 01 (một) mảnh giấy bạc đã bị đốt cháy thành màu đen thu giữ của Lò Văn C;
Tịch thu sung ngân sách Nhà nước số tiền 100.000 đồng.
Trả lại cho bị cáo Lò Văn T 100.000 đồng.
4/ Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
5/ Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án lên Tòa án nhân dân cấp trên. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo phần bản án có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình lên Tòa án nhân dân cấp trên trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết công khai./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Lai Châu; - VKSND tỉnh Lai Châu; - Sở tư pháp tỉnh Lai Châu; - VKSND huyện Nậm Nhùn; - Chi Cục THADS huyện Nậm Nhùn; - Công an huyện Nậm Nhùn; - Bị cáo; - Người có QLNVLQ; - Lưu HSVA. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |