vanban.org

Bản án 23/2023/HS-ST — Hình sự

TAND TX. An Nhơn, tỉnh Bình Định Tuyên án 30/03/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Đoàn Văn S phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Đoàn Văn S 15 (mười lăm) tháng cải tạo không giam giữ. Thời gian cải tạo không giam giữ được tính từ ngày cơ quan tổ chức được giao giám sát giáo dục nhận được bản án và quyết định thi hành án. Giao bị cáo Đoàn Văn S cho Ủy ban nhân dân phường Đ, thị xã A, tỉnh Bình Định… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Đoàn Văn S phạm tội "Trộm cắp tài sản" - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Đoàn Văn S phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ A
TỈNH BÌNH ĐỊNH
Bản án số: 23/2023/HS-ST
Ngày: 30-3-2023

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ A

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Thái Văn Hà

Các Hội thẩm nhân dân:

1/ Ông Hồ Xuân Dũng

2/ Ông Lê Minh Chiến

- Thư ký phiên Tòa: Bà Nguyễn Thị Xuân Thu –Thư ký Tòa án nhân dân thị xã A.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã A tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Hướng – Kiểm sát viên.

Trong ngày 30 tháng 3 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã A tiến hành xét xử vụ án hình S thụ lý số: 16/2023/TLST- HS ngày 03 tháng 3 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 386/2023/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 3 năm 2023, đối với bị cáo:

Đoàn Văn S; sinh năm 1990, tại Hà Nội; Nơi cư trú: số nhà 242 đường L, phường Đ, thị xã A, tỉnh Bình Định; Trình độ văn hóa: 9/12; nghề nghiệp: Buôn bán; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; Q tịch: Việt Nam; con ông Đoàn Văn C, sinh năm 1963 và bà Nguyễn Thị Th, sinh năm 1968; vợ tên Kiều Thị K, sinh năm 1988; con có 03 người, lớn sinh năm 2012 nhỏ sinh năm 2016; tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Bị cáo có mặt.

* Người bị hại: Anh Bùi Đặng Q, sinh năm 1990; Địa chỉ: số 146 Đ, phường Đ, thị xã A, tỉnh Bình Định (có đơn xin xét xử vắng mặt)

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Dương Văn T, sinh năm: 1989; Địa chỉ: Thôn V, xã N, thị xã A, tỉnh Bình Định (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 15 giờ 30 phút, ngày 23/10/2022, Đoàn Văn S và Dương Văn T nhậu xong thì rủ nhau đi tìm cây duối để đào về trồng làm cảnh. T điều khiển xe mô tô hiệu Sirius màu đỏ-đen, biển số: 29Y3-267.02 của T chở S về nhà S để lấy cuốc làm dụng cụ đào cây, rồi chở S đến phía sau khu nghĩa địa Tháp Cánh Tiên, thuộc thôn Bắc Thuận, xã Nhơn Hậu, thị xã A để tìm cây duối. Khoảng 16 giờ 00 phút cùng ngày, cả hai chạy xe vào bên trong theo lối đường mòn, đến phía sau khu nghĩa địa thì thấy khu vườn có trồng mai và nuôi gà của anh Bùi Đặng Q không có người trông coi nên nảy sinh ý định trộm cắp tài sản. S nói với T: “Gà kìa, bắt mấy con về tối nhậu”, T trả lời: “Ừ cũng được, vô bắt hai, ba con về nhậu”. S và T dựng xe mô tô bên ngoài hàng rào khu vườn, chui qua hàng rào cây có giăng kẽm gai rồi đi thẳng vào vị trí những chuồng đang nhốt gà. S và T mở cửa các chuồng gà và bắt tổng cộng 10 con gà (04 con gà trống, 06 con gà mái) mang bỏ vào 01 bao xi măng do S tìm thấy trong vườn.

Trong lúc bắt gà, S để ý trong vườn có trồng mai cảnh nên nảy sinh ý định nhổ trộm mai mang về trồng và không bàn bạc với T về việc nhổ mai. Khi T mang bao chứa gà đã trộm để đi về thì một mình S vào vườn mai và nhổ 01 cây mai dáng long mang ra ngoài. T mang bao đựng gà ra lại vị trí dựng xe mô tô, đặt bao đựng gà trộm được trên maga giữa xe. S ôm cây mai đi ra sau, do cây mai cồng kềnh nên S cất giấu vào trong bụi cây bên cạnh. T điều khiển xe mô tô chở về nhà S. Đến nơi, T đổ bao gà ra thì thấy chết 04 con, T chỉ lấy 02 con đã chết bỏ lại vào bao mang về nhà, còn lại 08 con (06 con sống, 02 con chết), T để tại nhà S. Đến khoảng 18 giờ cùng ngày, trong lúc S đang làm thịt 02 con gà thì bị anh Bùi Đặng Q phát hiện và báo cáo S việc cho Công an xã Nhơn Hậu.

Ngày 26/10/2022, Hội đồng định giá trong Tố tụng hình S thị xã A kết luận 10 con gà (06 con còn sống, 02 con đã chết chưa làm sạch lông và 02 con đã chết được làm sạch lông, mổ thịt) trị giá 1.125.000đ (một triệu một trăm hai mươi lăm nghìn đồng); 01 cây mai (loại dáng Long) trị giá 6.000.000đ (sáu triệu đồng).

Tổng giá trị tài sản thiệt hại trong vụ trộm cắp tài sản trên là 7.125.000đ (Bảy triệu một trăm hai mươi lăm nghìn đồng).

Vật chứng vụ án:

-01 xe mô tô nhãn hiệu Sirius, màu đỏ, biển số: 29Y3-267.02 (kèm Chứng nhận đăng ký xe mang tên Dương Văn T) (đã được trả lại cho chủ sở hữu).

- 01 cây mai dáng long, có chu vi gốc là 22cm, chiều cao từ gốc đến ngọn là 1,2 mét, phần Tn cây rộng nhất có đường kính là 1,3 mét (đã được trả lại cho chủ sở hữu).

- 10 con gà gồm trống và mái, lông tía (trong đó, 06 con còn sống, 02 con đã chết và 02 con đã được làm sạch lông, mổ thịt) đã được trả lại cho chủ sở hữu.

Về dân sự: Đoàn Văn S và Dương Văn T đã bồi thường cho anh Bùi Đặng Q số tiền 40.000.000 đồng và được anh Q bãi nại về dân sự.

Tại bản cáo trạng số: 21/CT-VKSAN ngày 03/3/2023, Viện kiểm sát nhân dân thị xã A truy tố bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung Bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:

Về trách nhiệm hình sự: Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, i, s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 36 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Đoàn Văn S 12 tháng đến 18 tháng cải tạo không giam giữ

Về phần dân sự: Các bên đã thỏa thuận bồi thường xong nên miễn xét.

Tại phiên tòa, bị cáo Đoàn Văn S khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội phù hợp với nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thị xã A, bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về thủ tục tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã A, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã A, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến, khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp, đúng quy định pháp luật

Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như Bản cáo trạng đã nêu, lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra và phù hợp với tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ, thể hiện: Lợi dụng sơ hở của anh Bùi Đặng Q trong việc quản lý tài sản, Đoàn Văn S, Dương Văn T đã lén lút vào khu nuôi gà của anh Q ở phía sau khu nghĩa địa Tháp Cánh Tiên xã Nhơn Hậu chiếm đoạt 10 con gà trị giá 1.125.000 đồng, sau khi trộm gà xong S tiếp tục trộm 01 cây mai (loại cây dáng long) trị giá 6.000.000 đồng. Tổng trị giá trộm cắp tài sản là 7.125.000 đ. Hành vi của Đoàn Văn S đã phạm vào khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự nên Cáo trạng của viện kiểm sát nhân dân thị xã A truy tố bị cáo Đoàn Văn S phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự là đúng người đúng tội.

Xét tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội của bị cáo: Bị cáo Đoàn Văn S là công dân trưởng thành có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự. Bị cáo thừa biết rằng quyền sở hữu của công dân được pháp luật bảo vệ nhưng vì để có tiền tiêu xài bị cáo đã lén lút chiếm đoạt tài sản của người khác. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội đã xâm phạm đến quyền sở hữu mà còn gây mất trật tự trị an ở địa phương. Do đó, cần xử phạt bị cáo một mức án nghiêm khắc mới có Tc dụng răn đe, giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

Xét về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình S: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Bị cáo đã bồi thương cho người bị hại số tiền 40.000.000đ, người bị hại đã bãi nại về dân sự và có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Bị cáo là lao động chính trong gia đình, 03 người con của bị cáo còn ở tuổi vị thành niên. Hơn nữa bị cáo có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng nên không cần cách ly bị cáo ra ngoài xã hội. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b, i, s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015.

Về trách nhiệm dân sự: Các bên đã thỏa thuận bồi thường xong, nên miễn xét.

Án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Đoàn Văn S phải chịu 200.000đ theo quy định của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Q hội.

Vì những lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm b, i, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 36 Bộ luật hình sự.

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Q hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Tuyên xử:

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Đoàn Văn S phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Đoàn Văn S 15 (mười lăm) tháng cải tạo không giam giữ. Thời gian cải tạo không giam giữ được tính từ ngày cơ quan tổ chức được giao giám sát giáo dục nhận được bản án và quyết định thi hành án.

Giao bị cáo Đoàn Văn S cho Ủy ban nhân dân phường Đ, thị xã A, tỉnh Bình Định giám sát, giáo dục trong thời gian cải tạo không giam giữ.

Trong trường hợp bị cáo Đoàn Văn S thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 100 Luật thi hành án hình sự.

Miễn khấu trừ thu nhập cho bị cáo Đoàn Văn S vì bị cáo không có thu nhập ổn định.

3. Về trách nhiệm dân sự: Các bên đã thỏa thuận bồi thường xong, miễn xét.

4. Án phí hình S sơ thẩm: Bị cáo Đoàn Văn S phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng).

5. Quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng người bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được hoặc niêm yết bản án.

“Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án Dân S thì người được thi hành án dân S, người phải thi hành án dân S có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân S, thời hiệu thi hành án được quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự ”.

Cỡ chữ