vanban.org

Bản án 23/2023/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa_Vũng Tàu Tuyên án 20/02/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Các bị cáo Đinh Văn S1 và Nguyễn Văn H ph m tội “Cố ý gây thư ng tích”.

X ph t bị cáo Đinh Văn S1 24 (hai mư i bốn) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian th thách là 48 (bốn mư i tám) tháng kể từ ngày tuyên án s thẩm (Ngày 20-02-2023). X ph t bị cáo Nguyễn Văn H 24 (hai mư i bốn) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian th thách là 48 (bốn mư i tám) tháng kể … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Đinh Văn S và Nguyễn Văn H - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ sung một…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Các bị cáo Đinh Văn S1 và Nguyễn Văn H ph m tội “Cố ý gây thư ng tích”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật hình s - X ph t; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình s; Điều 134 Bộ luật hình s - X ph t
TÒA ÁN NHÂN DÂN TP. VŨNG
TÀU
TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 23/2023/HS-ST
Ngày 20-02-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VŨNG TÀU, TỈNH BÀ RỊA - VŨNG

TÀU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Kiên

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Anh Đắc

Ông Nguyễn Văn Tám

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Thảo - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Vũng Tàu.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị N – Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 02 năm 2023, t i trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu xét x s thẩm công khai vụ án hình s thụ lý số 346/2022/HSST ngày 12 tháng 12 năm 2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét x số 09/2023/HSST-QĐXX ngày 07 tháng 02 năm 2023, đối v i các bị cáo:

1. Định Văn S, sinh năm: 1982, t i tỉnh Thanh Hóa; n i đăng ký hộ khẩu thường trú: 360/62/13A đường B, phường N, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu và n i ở: 442/1/2/28A đường B, phường N, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; trình độ văn hoá: 05/12; nghề nghiệp: Lao động t do; gi i tính: Nam; bố: Đinh Văn L và mẹ: Đặng Thị M; vợ: Đồng Thị P và có 02 con, con l n sinh năm 2008, con nhỏ sinh năm 2013; tiền án: Không; tiền s : Không; hiện đang t i ngo i, trú t i 442/1/2/28A đường B, phường N, TP ., tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. (Có mặt)

2. Nguyễn Văn H, sinh năm: 1968, t i tỉnh Hà Tĩnh; n i đăng ký hộ khẩu thường trú: 442/1/4A đường B, phường N, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; n i ở: 442/1/2/26 đường B, phường N, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; trình độ văn hoá: 12/12; nghề nghiệp: Công nhân; gi i tính: Nam; bố: Nguyễn Đình H1 và mẹ: Đào Thị H2; vợ: Hà Thị A và có 02 con, con l n sinh năm 2004, con nhỏ sinh năm 2012; tiền án: Không; tiền s : Không; hiện đang t i ngo i, trú t i 442/1/2/26 đường B, phường N, TP ., tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. (Có mặt)

Bị hại:

1. Bà Hà Thị A, sinh năm 1975, Địa chỉ: 442/1/2/26 đường B, phường N, TP ., tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. (Có mặt)

2. Định Văn S, sinh năm: 1982, Địa chỉ: D đường B, phường N, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. (Có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ s vụ án và diễn biến t i phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Bị cáo Đinh Văn S1 và bị cáo Nguyễn Văn H là hàng xóm, sống t i hẻm D đường B, phường N, TP .. Khoảng 17giờ 50phút ngày 22/5/2022, bị cáo S1 đi làm về đến nhà thì nhìn thấy một số vật dụng cá nhân ở bên hông nhà mình nên đã lấy ném vào bên trong vườn nhà bị cáo H. Lúc này, vợ của bị cáo H là bà Hà Thị A nghe tiếng động m nh ở phía sau vườn nhà mình nên đi ra xem xét. Khi bà A đi ra thì thấy bị cáo S1 đang cầm trong tay một cái xẻng đập m nh vào phần tường rào của nhà mình nên bà A đã ch i bị cáo S1, bị cáo Sỹ cũng ch i l i bà A. Sau đó, bà An đi về nhà nói v i bị cáo H về việc bị cáo S1 đang đập phá tường rào nhà mình, bị cáo H không nói gì và đi ra xem tình hình. Khi bị cáo H ra, bị cáo S1 vẫn tiếp tục dùng xẻng đập vào phần tôn tường rào và có lời nói thách thức bị cáo H. Lúc này, anh Trần Ngọc Đ hàng xóm, đi đến tư c cái xẻng trong tay bị cáo S1 cất đi nhằm không để xảy ra đánh nhau. Ngay sau đó, bị cáo H đi về nhà lấy 01 con dao bằng kim lo i (có chiều dài 1,02m; lưỡi dao có mũi nhọn, dài 80cm; bản dao rộng 3cm; có màu trắng) đi ra đòi đánh nhau v i bị cáo S1, thấy vậy bà A đã can ngăn bị cáo H l i. Khi thấy bị cáo Huyến ch y về nhà để lấy hung khí thì bị cáo S1 cũng ch y vào nhà mình lấy 01 con dao (có chiều dài 37cm; lưỡi dao làm bằng kim lo i, có chiều dài 26cm, bản dao rộng 7cm; cán dao làm bằng gỗ, dài 11cm) và 01 con dao (chiều dài khoảng 30cm, lưỡi dao làm bằng kim lo i, màu trắng; cán làm bằng gỗ) ch y về phía cổng nhà bị cáo H. Vừa thấy bị cáo S1 cầm dao xông vào thì bà A tiếp tục ngăn cản đẩy bị cáo H hư ng về phía cổng nhà mình nhưng bị cáo H vẫn s dụng hai tay cầm dao vung lên chém một nhát, hư ng từ trên xuống trúng vào bàn tay trái (làm đứt lìa ngón IV, V và đứt gần lìa ngón III) của bị cáo S1. Bà A vẫn tiếp tục ôm, đẩy bị cáo H dẫn đến cả hai vợ chồng bị cáo H bị trượt chân ngã ra phía sau. Ngay sau đó, bị cáo S1 đã dùng tay phải cầm dao phóng (ném) m nh một cái, hư ng vào người bị cáo H và bà A, gây thư ng tích ở mu bàn tay trái của bà An và thư ng tích ở khuỷu tay trái của bị cáo H. Bị cáo Huyến bật dậy cầm theo con dao rượt đuổi chém bị cáo S1, khi rượt đuổi nhau được khoảng 20m đến cuối hẻm thì bị cáo S1 đã s dụng 01 (một) giàn ph i (bằng inox ph i quần, áo của nhà hàng xóm) lên chống đỡ nên không bị bị cáo H dùng dao chém trúng vào người. Lúc này bà A vẫn tiếp tục ch y theo can ngăn bị cáo H nên bà An đã bị té ngã trúng vào chậu cây kiểng của nhà hàng xóm gây chấn thư ng rách ngoài da ở phía dư i mắt cá chân trái và trầy xư c ngoài da ở phần cẳng chân phải. Sau đó, vợ chồng bị cáo H đi về nhà và khoá c a l i, còn bị cáo S1 đã được người thân đưa đi Bệnh viện để cấp cứu.

Bản kết luận giám định pháp y về thư ng tích số: 225/TgT ngày 14/6/2022 của Trung tâm Pháp y Sở Y tế, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. Kết luận “Tỷ lệ tổn thư ng c thể do thư ng tích gây ra hiện t i đối v i Đinh Văn S1 là 21% (Hai mư i mốt phần trăm)”.

Bản kết luận giám định pháp y về thư ng tích số: 235/TgT ngày 15/6/2022 của Trung tâm Pháp y Sở Y tế, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. Kết luận “Tỷ lệ tổn thư ng c thể do thư ng tích gây ra hiện t i đối v i Nguyễn Văn H là 02% (Hai phần trăm)”.

Bản kết luận giám định pháp y về thư ng tích số: 234/TgT ngày 15/6/2022 của Trung tâm Pháp y Sở Y tế, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. Kết luận: “Tỷ lệ tổn thư ng c thể do thư ng tích gây ra hiện t i đối v i Hà Thị A là 15% (Mười lăm phần trăm)”.

Ngày 17/11/2022, C quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố V ra Quyết định trưng cầu giám định bổ sung số 02/QĐ-Đ1 đối v i thư ng tích của bà Hà Thị A. T i Bản kết luận giám định Pháp y trên hồ s số 414/TgT ngày 21/11/2022 của Trung tâm P1, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. Kết luận:

- Thư ng tích 1: Có tỷ lệ tổn thư ng c thể là 13% (Mười ba phần trăm);

- Thư ng tích 2: Có tỷ lệ tổn thư ng c thể là 0,5% (không phẩy năm phần trăm);

- Thư ng tích 3: Có tỷ lệ tổn thư ng c thể là 02% (hai phần trăm).

(Thư ng tích 2 và 3 là do bà An t lúc can ngăn H và S1 đánh nhau đã trượt chân ngã vào chậu cây cảnh gây ra thư ng tích 0,5% và 02%).

* Việc thu giữ, t m giữ tài liệu, đồ vật; x lý vật chứng:

+ C quan CSĐT Công an thành phố V t m giữ:

- 01 dĩa DVD được trích xuất từ camera của gia đình trong có chứa 01 đo n clip có độ dài 03 phút 18 giây ghi l i hình của vụ việc đánh nhau gây thư ng tích vào khoảng 17 giờ 48 phút đến 17 giờ 50 phút ngày 22/5/2022 (Hiện lưu theo hồ s vụ án).

- 01 con dao t chế bằng kim lo i, màu trắng; có chiều dài 1,02m; lưỡi dao có mũi nhọn, dài 80cm; bản dao rộng 3cm; phần cuối lưỡi dao trên sống dao được t o hình răng cưa dài 22cm;

- 01 con dao t chế bằng kim lo i; có chiều dài 37cm; phần lưỡi dao có chiều dài 26cm, bản dao rộng 7cm; cán dao làm bằng gỗ, dài 11cm; t i vị trí cách đầu lưỡi dao và sống dao 1cm có lỗ thủng đường kính 1cm; trên lưỡi dao có khắc chìm “Trong” lưỡi dao bị mẻ cong t i vị trí lưỡi dao cách cán 6cm.

+ Hiện các vật chứng này được chuyển sang Chi cục Thi hành án dân s thành phố Vũng Tàu bảo quản, chờ x lý.

Về trách nhiệm dân s : Bị cáo Đinh Văn S1, bị cáo Nguyễn Văn H và bà Hà Thị A đã t thỏa thuận bồi thường cho nhau, không yêu cầu bồi thường gì thêm đối v i vụ án này và xin bãi n i cho nhau.

Bản cáo tr ng số 365/CT-VKSVT ngày 06-12-2022, Viện Kiểm sát nhân dân Tp.Vũng Tàu đã truy tố các bị cáo Đinh Văn S1 và Nguyễn Văn H về tội “Cố ý gây thư ng tích” quy định t i điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ Luật hình s .

Tại phiên tòa:

- Bị cáo Đinh Văn S1 và bị cáo Nguyễn Văn H đã khai nhận về toàn bộ hành vi của mình như đã nêu trên. Các bị cáo đã thấy việc làm của mình là vi ph m pháp luật, tỏ ra ăn năn, hối cải và xin được giảm nhẹ hình ph t.

- Đ i diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố t i phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Đinh Văn S1 và bị cáo Nguyễn Văn H về tội “Cố ý gây thư ng tích” và đề nghị Hội đồng xét x : Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 65 Bộ luật hình s , x ph t bị cáo Đinh Văn S1 và bị cáo Nguyễn Văn H, mỗi bị cáo từ 24 đến 36 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian th thách từ 48 đến 60 tháng. Về trách nhiệm dân s : Không yêu cầu nên không xem xét. Về x lý vật chứng: Đề nghị tịch thu tiêu hủy 02 con dao t chế bằng kim lo i.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên c sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ s vụ án đã được tranh tụng t i phiên tòa, Hội đồng xét x nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của C quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã th c hiện đúng về thẩm quyền, trình t , thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình s . Quá trình điều tra và t i phiên tòa, các bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu n i về hành vi, quyết định của C quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của C quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã th c hiện đều hợp pháp.

Về hành vi ph m tội của các bị cáo: T i phiên tòa, bị cáo Đinh Văn S1 và bị cáo Nguyễn Văn H đã khai nhận toa n bộ hành vi ph m tội của mình. Đối chiếu lời khai nhận của các bị cáo v i lời khai của bị h i và các tài liệu, chứng cứ đã thu thập có trong hồ s vụ án là hoàn toàn phù hợp, Hội đồng xét x có đủ c sở để xác định:

Bị cáo Đinh Văn S1 và bị cáo Nguyễn Văn H là hàng xóm, sống gần nhà nhau, do có mâu thuẫn trong việc để một số vật dụng cá nhân nên khoảng 17giờ 50phút ngày 22/5/2022, t i trư c số nhà D đường B, phường N, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, bị cáo Đinh Văn S1 đã có hành vi dùng hung khí nguy hiểm (con dao) phóng (ném) vào người bị cáo Nguyễn Văn H và bà Hà Thị A, gây thư ng tích ở khuỷu tay trái của bị cáo Nguyễn Văn H v i tỷ lệ thư ng tích là 02% và gây thư ng tích ở mu bàn tay trái của bà Hà Thị A v i tỷ lệ thư ng tích là 13%. Đồng thời, bị cáo Nguyễn Văn H đã có hành vi dùng hung khí nguy hiểm là dao t chế chém vào bàn tay trái của bị cáo Đinh Văn S1 gây thư ng tích v i tỷ lệ thư ng tích là 21%.

Hành vi s dụng dao t chế là hung khí nguy hiểm gây thư ng tích cho bà Hà Thị A, v i tỷ lệ thư ng tích là 13% mà bị cáo Đinh Văn S1 đã th c hiện đủ dấu hiệu cấu thành tội “Cố ý gây thư ng tích” quy định t i điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình s .

Hành vi s dụng dao t chế là hung khí nguy hiểm gây thư ng tích cho bị cáo Đinh Văn S1, v i tỷ lệ thư ng tích là 21% mà bị cáo Nguyễn Văn H đã th c hiện đủ dấu hiệu cấu thành tội “Cố ý gây thư ng tích” quy định t i điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình s .

Đối v i hành vi của bị cáo Đinh Văn S1 dùng hung khí nguy hiểm là dao t chế gây thư ng tích bị cáo Nguyễn Văn H, v i tỷ lệ thư ng tích là 02% thuộc trường hợp quy định t i khoản 1 Điều 134 Bộ luật hình s . Tuy nhiên, bị cáo Nguyễn Văn H đã có đ n xin bãi n i, không truy cứu trách nhiệm hình s đối v i bị cáo Đinh Văn S1 nên bị cáo Đinh Văn S1 không phải chịu trách nhiệm hình s đối v i hành vi trên.

Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi của các bị cáo:

Xét tính chất, mức độ do hành vi ph m tội của bị cáo đã gây ra là nguy hiểm cho xã hội; đã tr c tiếp xâm ph m đến sức khỏe của người khác được pháp luật bảo vệ; ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật t t i địa phư ng và an toàn xã hội. Vì vậy, cần phải x lý thật nghiêm, áp dụng mức hình ph t tư ng xứng v i tính chất, mức độ nguy hiểm đối v i hành vi ph m tội bị cáo nhằm giáo dục riêng và răn đe, phòng ngừa chung về tội ph m xã hội. Tuy nhiên, các bị cáo lần đầu ph m tội nên cũng cần xem xét giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình ph t để bị cáo thấy được s khoan hồng của pháp luật

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình s .

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình s : Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình s quy định Điều 52 Bộ luật hình s .

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình s : Các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi ph m tội của mình; các bị cáo và bị h i đã t thỏa thuận, thống nhất bồi thường thiệt h i cho nhau để khắc phục hậu quả và bãi n i, xin giảm nhẹ hình ph t cho nhau là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình s quy định t i điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình s .

Về hình ph t: Bị cáo Đinh Văn S1 và bị cáo Nguyễn Văn H có nhân thân tốt; có n i cư trú rõ ràng; có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình s , không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình s ; vụ án xẩy ra do lỗi nhất thời của các bị cáo; các bị cáo có khả năng t cải t o nên xét thấy không cần phải bắt bị cáo chấp hành hình ph t tù, không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi gia đình và xã hội mà giao bị cáo cho chính quyền địa phư ng n i bị cáo cư trú để giám sát, giáo dục cũng đủ tác dụng răn đe giáo dục bị cáo. Vì vậy, áp dụng Điều 65 Bộ luật hình s cho bị cáo được hưởng án treo.

Về trách nhiệm dân s : Không yêu cầu nên không xem xét.

Về x lý vật chứng vụ án: Tịch thu tiêu hủy 02 con dao t chế bằng kim lo i là vật chứng vụ án.

Về án phí hình s s thẩm: Các bị cáo phải nộp theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố: Các bị cáo Đinh Văn S1 và Nguyễn Văn H ph m tội “Cố ý gây thư ng tích”.

Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 65 Bộ luật hình s

- X ph t bị cáo Đinh Văn S1 24 (hai mư i bốn) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian th thách là 48 (bốn mư i tám) tháng kể từ ngày tuyên án s thẩm (Ngày 20-02-2023).

- X ph t bị cáo Nguyễn Văn H 24 (hai mư i bốn) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian th thách là 48 (bốn mư i tám) tháng kể từ ngày tuyên án s thẩm (Ngày 20-02-2023).

Giao các bị cáo Đinh Văn S1 và Nguyễn Văn H cho Ủy ban nhân dân phường N, thành phố V, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu giám sát, giáo dục trong thời gian th thách.

Trường hợp người được hưởng án treo vắng mặt nơi cư trú, thay đổi nơi cư trú hoặc nơi làm việc thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo; Nếu phạm tội mới trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt của bản án đã cho hưởng án treo và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định của Bộ luật hình sự.

2. Về trách nhiệm dân s : Không yêu cầu nên không xem xét.

3. Về x lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình s , Điều 106 Bộ luật tố tụng hình s . Tịch thu tiêu hủy:

- 01 con dao t chế bằng kim lo i, màu trắng, có chiều dài 1.02m; lưỡi dao có mũi nhọn, dài khoảng 80cm, bản dao rộng 3cm, phần cuối lưỡi dao trên sống dao được t o hình răng cưa dài 22cm.

- 01 con dao t chế bằng kim lo i có chiều dài 37cm, phần lưỡi dao có chiều dài 26cm, bản dao rộng 7cm, cán dao làm bằng gỗ dài 11cm, t i vị trí cách đầu lưỡi dao và sống dao 1cm có lỗ thủng đường kính 1cm, trên lưỡi dao có khắc chìm (Trong) lưỡi dao bị mẻ cong t i vị trí lưỡi dao cách cán 6cm.

Vật chứng nêu trên hiện Chi cục Thi hành án dân s thành phố Vũng Tàu đang quản lý theo Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản số 71/BB-CCTHADS ngày 14 tháng 12 năm 2022.

4. Về án phí hình s s thẩm: Bị cáo Đinh Văn S1 và bị cáo Nguyễn Văn H, mỗi bị cáo phải nộp 200.000đ (Hai trăm ngàn đồng).

5. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo, bị h i được quyền kháng cáo bản án trong thời h n 15 ngày kể từ ngày tuyên án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu xét x theo thủ tục phúc thẩm.

Cỡ chữ