- Tranh chấp gì? án hình sự — "Đoàn Văn Đ - phạm tội giết người (điều 123 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Đoàn Văn Đ phạm “Tội giết người”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẾN TRE | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 23/2023/HS-ST Ngày: 02-6-2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẾN TRE
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Văn Tỉnh
Thẩm phán: Ông Bùi Quang Sơn
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Võ Công Nhân
Bà Huỳnh Thị Sang
Bà Nguyễn Thị Kiều Oanh
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Như Sương - Thư ký Tòa án;
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bến Tre tham gia phiên tòa:
Ông Phan Công Hậu– Kiểm sát viên;
Ngày 02 tháng 6 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bến Tre xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 12/TLST-HS ngày 16 tháng 3 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 1430/2023/QĐXXST-HS ngày 19 tháng 5 năm 2023 đối với bị cáo:
Đoàn Văn Đ , sinh năm 1973 tại tỉnh Bến Tre; nơi cư trú: ấp P , xã C , huyện M, tỉnh Bến Tre; nghề nghiệp: làm thuê; trình độ văn hóa: không biết chữ; giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: không; con ông Đoàn Văn U (chết) và bà Nguyễn Thị B, sinh năm 1952; vợ: Đoàn Thị Th , sinh năm 1976; bị cáo có 01 người con, sinh năm 1994; tiền án, tiền sự: không; Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 14/9/2022, chuyển tạm giam từ ngày 19 tháng 9 năm 2022 đến nay (có mặt);
- Người bào chữa cho bị cáo: Bà Nguyễn Thị Kim H – Luật sư Văn phòng luật sư H, Đoàn Luật sư tỉnh Bến Tre, có mặt.
- Người đại diện hợp pháp của bị hại Trần Văn Ch (chết): Ông Trần Văn B , sinh năm 1954 (cha bị hại); bà Phạm Thị Th , sinh năm 1955 (mẹ bị hại); Lê Thị H , sinh năm 1988 (vợ bị hại); Trần Minh N , sinh năm 2006 (con bị hại); Trần Trọng Kh , sinh năm 2014 (con bị hại); cùng cư trú: ấp P , xã C , huyện M , tỉnh Bến Tre; chị H là người đại diện theo pháp luật của Trần Trọng Kh và đồng thời là người đại diện theo ủy quyền của ông B, bà Th, anh N, có mặt;
- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người đại diện hợp pháp của bị hại: Ông Nguyễn Minh K - Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Bến Tre, có mặt;
- Người làm chứng:
1. Đoàn Thị L , sinh năm 1989;
Nơi cư trú: 335A/3, ấp 3, xã S , thành phố B , tỉnh Bến Tre, có mặt.
2. Nguyễn Thị T , sinh năm 1966;
Nơi cư trú: ấp P , xã C , huyện M , tỉnh Bến Tre, vắng mặt;
3. Đoàn Thị H , sinh năm 1962;
Nơi cư trú: ấp P , xã C , huyện M , tỉnh Bến Tre, có mặt;
4. Nguyễn Văn G , sinh năm 1963;
Nơi cư trú: ấp P , xã C , huyện M , tỉnh Bến Tre, có mặt;
- Đại diện gia đình bị cáo: Đoàn Thị Th , sinh năm 1976; Nơi cư trú: ấp P , xã C , huyện M , tỉnh Bến Tre, có mặt;
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Đoàn Văn Đ và anh Trần Văn Ch cùng cư trú tại ấp P , xã C , huyện M , tỉnh Bến Tre. Trong khoảng thời gian từ tháng 7 năm 2022 đến đầu tháng 9 năm 2022, Đ có đánh bạc bằng hình thức chơi số đề với anh Ch và nợ anh Ch một khoản tiền, nên Đ nói với anh Ch là sẽ nghỉ, không đánh bạc nữa. Anh Ch nói “Nay ông không chơi nữa thì tui cộng lại số tiền ông thiếu tui, hổm nay tới ngày 02/9 cộng lại là 25.000.000 đồng, giờ ông phải thanh toán đủ cho tui, tui không cho thiếu nữa”, Đ năn nỉ anh Ch để từ từ trả nhưng anh Ch không đồng ý. Ngày 07/9/2022, anh Ch điện thoại kêu Đ lên nhà anh Trần Văn B ngụ cùng ấp để nói chuyện. Tại đây, Đ hứa với anh Ch là sẽ đi kiếm tiền chiều trả cho anh Ch , rồi Đ đi về nhà. Đến tối cùng ngày, anh Ch tiếp tục gọi điện thoại đòi tiền và nói nếu Đ không ra gặp mặt thì anh Ch sẽ vào nhà, Đ sợ bị vợ phát hiện mình thiếu tiền anh Ch nên đi ra gặp anh Ch . Lúc này, Đ thấy anh Ch ngồi đợi chỗ gốc dừa gần nhà và có bóng dáng 02 người (không rõ là ai), Đ sợ bị đánh nên bỏ chạy thì bị đánh 02 cái phía sau lưng nhưng không có thương tích. Khoảng 15 giờ ngày 10/9/2022, Đ đến cơ sở sản xuất chỉ sơ dừa “B” ở cùng ấp để lấy bình điện dùng để bơm nước ghe, lúc này Đ thấy một cuộn dây dẫn điện loại dây đôi mềm 1.0 mm màu xanh đen dài khoảng 12 mét, đã cũ để dưới đất nên nảy sinh ý định dùng điện gài giết chết Ch. Thực hiện ý định trên, Đ lấy cuộn dây điện giấu trong áo và đi xuống ghe, khi còn cách ghe đậu khoảng 30 mét, Đ bỏ cuộn dây điện dưới đất, rồi cầm bình điện đi xuống để dưới ghe, sau đó Đ quay lên lấy cuộn dây điện đi đến chuồng nuôi dê của ông Nguyễn Văn G ở cùng ấp. Tại đây, Đ lấy bật lửa để trong túi quần đốt nóng vỏ nhựa 01 đầu dây điện rồi dùng tay tuốt ra, khi tuốt ra thì Đ dùng tay xoắn ruột dây điện bẻ co lại rồi thực hiện cố định một đầu dây điện vào cây cột chuồng dê gần ổ cắm điện, đầu dây điện còn lại thì Đ đem thả xuống mương nước cặp đường đi. Sau đó, Đ quay lại vị trí ổ cắm điện cắm đầu dây điện vào ổ cắm điện để thử thì thấy có xẹt tia lửa, biết nơi gài điện dưới nước đã có điện nên Đ rút dây điện ở ổ cắm ra rồi về nhà ăn cơm.
Đến khoảng 19 giờ ngày 10/9/2022, Đ đi xuống ghe bơm nước ra rồi đi lên vị trí ổ cắm điện tại chuồng dê nhà ông G và cắm đầu dây điện vào ổ cắm thì phát hiện nhà của ông G đèn điện bị bật tắt nhiều lần. Đ biết nhà ông G có lắp cầu dao chống giật nên Đ giả vờ đi đến nhà ông G xin phân dê, mục đích để ông G kêu Đ sửa điện và Đ sẽ đấu nối dây điện trực tiếp không qua cầu dao chống giật. Khi thấy Đ đến nhà, ông G nhờ Đ kiểm tra điện giúp, Đ nói dối là cầu dao chống giật bị hư, Đ sẽ câu điện trực tiếp vào cầu dao tổng sử dụng đỡ, khi nào Đ đi ghe về sẽ sửa lại cho ông G. Đ kêu ông G đưa tua vít và băng keo để thực hiện tháo dây điện khỏi cầu dao chống giật nối trực tiếp vào cầu dao tổng trong nhà ông G, khi kết nối xong thì điện tại nhà ông G hoạt động bình thường và Đ biết dây điện mình kết nối xuống mương nước cũng có điện nên gọi điện thoại cho anh Ch nhưng anh Ch không bắt máy, Đ đi về nhà, khi đi ngang quán nước của anh Trần Duy K thì phát hiện anh Ch đang đi theo phía sau. Thấy vậy, Đ đi xuống bến ghe, khi đi đến vị trí mà Đ đã gài điện ở dưới mương, Đ kêu anh Ch ngồi trên bờ và nói là đi xuống ghe bơm nước rồi lên nói chuyện, Đ xuống ghe bơm nước và quan sát thấy không có ai đi cùng với anh Ch nên đi lên bờ và ngồi phía sau lưng anh Ch , Đ xin trả tiền dần thì anh Ch nói: “Ông làm sao làm, ông phải kiếm cho có cho tôi, không thì ông đừng hòng đi chuyến ghe này”. Nghe vậy, Đ dùng hai tay đẩy mạnh anh Ch xuống mương nước và Đ nghe anh Ch nói “Trời ơi điện giật” nên quay người bỏ chạy. Khi chạy ngang nhà bà Nguyễn Thị T ngụ cùng ấp Đ thấy bà T đang ở trước của nhà nên dừng lại trò chuyện với bà T. Được một lúc, Đ quay lại vị trí ổ cắm điện rút dây điện trong ổ cắm ra, phát hiện anh Ch nằm bất động dưới mương nước, sợ bị phát hiện nên Đ xuống mương nước dùng tay kéo anh Ch ra sông Thom, Đ lên bờ gỡ dây điện ra cuộn lại đem xuống để ở mũi ghe và thay đồ rồi ngủ. Khoảng 23 giờ cùng ngày, Đ cùng Phan Văn Ch2 đi xuống ghe rồi Đ và Ch2 lái ghe chở mụn dừa đi Thành phố Sa Đéc, tỉnh Đồng Tháp. Trên đường đi, Đ đã lấy cuộn dây điện bỏ xuống sông Thom.
Khoảng 00 giờ ngày 13/9/2022, ông Đoàn Mỹ Tr và vợ là Đoàn Ngọc B bơi ghe đi đổ đáy trên sông Thom thuộc địa phận ấp P , xã C , huyện M thì phát hiện thi thể của Trần Văn Ch nổi trên mặt nước, nên báo cơ quan Công an. Sáng ngày 13/9/2022, sau khi từ tỉnh Đồng Tháp về, Đ nghe người dân đồn vớt được xác người trôi sông. Đ về nhà kể lại cho vợ là chị Đoàn Thị Th và anh Đoàn Văn X nghe việc mình giết anh Ch . Sau đó, Đ đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Bến Tre tự thú.
Vật chứng thu giữ:
- Bà Lê Thị H giao nộp: 01 điện thoại di động hiệu NOKIA, loại 110, màu đen, số seri1: 355777101201410; số seri 2: 355777102201419 được gắn sim 1 số 0354278620, sim 2 số 0782897964.
- Đoàn Thi Th giao nộp:
+ 01 điện thoại di động hiệu FORME, màu xanh đen trắng, số IMEI 1: 354233101103702, số IMEI 2: 354233101103710, có gắn sim số 0986455644.
+ 01 bật lửa màu vàng và nhựa trong suốt nhìn thấy bên trong, bên trong có 02 viên xí ngầu nằm trong chất lõng, 01 viên màu vàng chấm đen và 01 viên màu đỏ chấm đen.
- Bà Đoàn Thi H giao nộp: 01 tua vít có chiều dài 28cm, cán bằng nhựa màu đỏ đen dài 13cm, phần lưỡi bằng kim loại dài 15 cm đã bị rỉ sét.
Tại Bản kết luận giám định pháp y về tử thi số 156/TT ngày 11/10/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bến Tre kết luận:
1. Dấu hiệu chính qua giám định
- Tử thi trong thời kỳ phân hủy mạnh; da toàn thân bị bong tróc; da bàn tay, bàn chân bị lột găng.
- Toàn thân tử thi không phát hiện dấu vết tổn thương do tác động ngoại lực dẫn đến tử vong.
- Dịch hồng chảy ra từ miệng và mũi.
- Dịch bọt màu hồng, thức ăn dạng hạt màu trắng và dị vật màu đen nghi bùn đất trong lòng khí quản.
- Phù căng hai phổi; nhiều mảng xuất huyết trên bề mặt hai phổi; diện cắt có nhiều dịch bọt màu hồng.
- Tim đang phân hủy; bề mặt có nhiều mảng xuất huyết.
- Mô bệnh học:
+ Phổi: đầy dịch hồng trong lòng và vách phế nang;
+ Da chân: Tăng sản lớp sừng, không có lớp biểu mô;
+ Các tế bào của các mô đang trong giai đoạn hoại tử.
- Hóa pháp: không tìm thấy các chất độc thường gặp.
2. Nguyên nhân chết: Nạn nhân Trần Văn Ch chết do ngạt nước.
3. Kết luận khác: Thời gian chết trên 48 giờ.
Trách nhiệm dân sự: quá trình điều tra bà Lê Thị H là người đại diện hợp pháp bị hại và các con bị hại yêu cầu bị cáo bồi thường các khoản sau: tiền tổn thất tinh thần: 149.000.000 đồng; tiền mai táng phí: 51.500.000 đồng; tiền cấp dưỡng cho cha mẹ ruột là Trần Văn B , sinh năm 1954 và bà Phạm Thị Th , sinh năm 1955 trong 10 năm là: 240.000.000 đồng; tiền cấp dưỡng 02 con Trần Minh N , sinh ngày 30/6/2006 là 60.000.000 đồng và Trần Trọng Kh , sinh năm 2014 là 300.000.000 đồng. Bị cáo đồng bồi thường các khoản theo yêu cầu bà H. Tuy nhiên, mức bồi thường đề nghị Tòa xem xét xử lý theo quy định pháp luật.
Bị cáo Đoàn Văn Đ đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai nhận của bị cáo hoàn toàn phù hợp với kết quả khám nghiệm hiện trường, thực nghiệm điều tra, kết quả giám định và các tài liệu, chứng cứ đã thu thập được trong quá trình giải quyết vụ án.
* Tại Bản cáo trạng số 25/CT-VKSBT-P1 ngày 16/03/2023 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bến Tre truy tố Đoàn Văn Đ về “Tội giết người” theo điểm q khoản 1 Điều 123 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa: Bị cáo khai nhận hành vi phù hợp nội dung bản Cáo trạng.
Kiểm sát viên thực hành quyền công tố luận tội và tranh luận: Giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị tuyên bố bị cáo Đoàn Văn Đ phạm “Tội giết người”. Áp dụng điểm q khoản 1 Điều 123; điểm b, r, s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Đoàn Văn Đ từ 18 đến 20 năm tù. Về phần trách nhiệm dân sự: buộc bị cáo bồi thường theo thỏa thuận và bồi thường theo yêu cầu của chị H . Về xử lý vật chứng; Trả cho chị H 01 điện thoại của anh Ch , tịch thu tiêu hủy các vật còn lại đã thu giữ. Đối với điện thoại hiệu FORME của bị cáo, bị cáo không yêu cầu nhận lại nên tịch thu nộp ngân sách Nhà nước.
Bị cáo không tranh luận.
Người bào chữa cho bị cáo cho rằng không tranh luận về tội danh và điều luật áp dụng truy tố đối với bị cáo; Về động cơ phạm tội do bị hại gọi điện thoại đòi nợ sợ áp lực, hâm dọa bị cáo do nợ tiền mua số đề gây cho bị cáo hoang mang là tác nhân không nhỏ cho bị cáo, dẫn đến bị áp lực thiếu suy nghĩ cần xem xét cho bị cáo; bị cáo phạm tội ra tự thú (điểm r khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự), quá trình điều tra bị cáo tự nguyện khai báo, ăn năn hối cải (điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự), bị cáo không biết chữ nên hiểu biết pháp luật hạn chế, gia đình của bị cáo có công với đất nước (khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự); bị cáo tác động gia đình nộp tiền bồi thường 4.000.000 đồng. Về trách nhiệm dân sự bị cáo đồng ý bồi thường các khoản nhưng theo quy định của pháp luật. Đề nghị áp dụng hình phạt dưới mức thấp nhất mà Kiểm sát viên đề nghị.
Đại diện hợp pháp của bị hại không tranh luận.
Người bảo vệ quyền lợi cho đại diện hợp pháp của bị hại cho rằng không tranh luận về tội danh; về tình tiết giảm nhẹ bị cáo che giấu hành vi phạm tội nên áp dụng tình tiết giảm nhẹ thành khẩn khai báo là chưa phù hợp, về bồi thường thiệt hại, ăn năm hối cải cũng chưa phù hợp, bị cáo cố ý thực hiện hành vi phạm tội đến cùng. Đề nghị không áp dụng tình tiết giảm nhẹ đối với bị cáo, áp dụng tình tiết tăng nặng là cố ý thực hiện hành vi phạm tội đến cùng. Về trách nhiệm dân sự đồng ý theo quan điểm của Kiểm sát viên với số tiền bồi thường là 800.500.000 đồng; đề nghị trả điện thoại của bị hại lại cho chị H .
Lời sau cùng: Bị cáo xin lỗi gia đình bị hại, yêu cầu xem xét tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra - Công an tỉnh Bến Tre, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bến Tre, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố về tổng thể đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị hại, người bào chữa không có khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp. Việc vắng mặt người làm chứng không ảnh hưởng đến việc xét xử nên phiên tòa tiếp tục xét xử vắng mặt người làm chứng theo quy định tại Điều 293 Bộ luật tố tụng hình sự.
Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, phù hợp với các chứng cứ đã được thu thập, có cơ sở xác định: Chỉ vì muốn trốn tránh trách nhiệm trả nợ cho anh Trần Văn Ch, nên ngày 10 tháng 9 năm 2022, Đoàn Văn Đ đã dùng dây dẫn điện loại dây đôi mềm 1.0 mm một đầu kết nối vào nguồn điện thắp sáng tại chuồng nuôi dê của ông Nguyễn Văn G tại ấp P , xã C , huyện M , tỉnh Bến Tre, đầu còn lại để dưới mương nước. Sau đó, lợi dụng lúc anh Ch không để ý, Đ đã xô anh Ch xuống nước cho điện giật. Khi thấy anh Ch bất tỉnh, Đ đã kéo anh Ch ra sông Thom cho nước cuốn trôi nhằm che giấu hành vi phạm tội của mình. Hậu quả: Anh Ch chết do ngạt nước.
Bị cáo là người đủ năng lực, hành vi. Với ý thức, hành vi và hậu quả do bị cáo Đoàn Văn Đ đã gây ra. Cáo trạng số: 25/CT-VKSBT-P1 ngày 16/3/2023 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bến Tre truy tố Đoàn Văn Đ về “Tội giết người” theo điểm q khoản 1 Điều 123 Bộ luật Hình sự với tình tiết định khung tăng nặng “Vì động cơ đê hèn” là có căn cứ đúng quy định của pháp luật.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, chỉ vì muốn trốn tránh trách nhiệm trả nợ cho anh Ch mà bị cáo đã tước đi mạng sống của người khác trái pháp luật, hành vi của bị cáo thể hiện tính cách xem thường tính mạng của người khác, xâm phạm tính mạng của người khác trái pháp luật, gây đau thương tang tóc cho gia đình nạn nhân không gì bù đắp được, gây mất trật tự trị an ở địa phương, gây bất bình trong nhân dân. Hành vi của bị cáo phạm vào trường hợp đặc biệt nghiêm trọng nên cần áp dụng hình phạt tù nhằm cải tạo giáo dục bị cáo và răn đe phòng ngừa chung.
Xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo. Bị cáo không có tình tiết tặng trách nhiệm hình sự. Về tình tiết giảm nhẹ: Sau khi phạm tội bị cáo đã tự thú, quá trình điều tra bị cáo khai nhận hành vi phù hợp với tình tiết khách quan của vụ án để làm căn cứ xác định hành vi và tội danh đối với bị cáo nên được xem là thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; đã tác động gia đình nộp một phần tiền để thực hiện việc bồi thường thiệt hại với số tiền 4.000.000đồng; bị cáo có cha (Đoàn Văn U) tham gia cách mạng được tặng Huân chương kháng chiến hạng Nhất và là thương binh hạng 4/4, cô ruột (Đoàn Thị T) là Bà mẹ Việt Nam Anh hùng, cậu ruột (Phan Văn S) là thương binh hạng 4/4 (theo điểm r, b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự).
Về trách nhiệm dân sự: Đại diện hợp pháp của bị hại (bà Lê Thị H ) yêu cầu bồi thường số tiền 800.500.000 đồng (gồm tiền tổn thất tinh thần 149.000.000 đồng; tiền mai táng cho bị hại 51.500.000 đồng; tiền nuôi con của bị hại là Trần Minh N (sinh ngày 30/6/2006) đến 18 tuổi là 2.500.000 đồng/tháng x 24 tháng = 60.000.000 đồng; cấp dưỡng nuôi Trần Trọng Kh (sinh ngày 14/02/2014) đến 18 tuổi là 2.500.000 đồng/tháng x 12 tháng x 10 năm = 300.000.000 đồng và yêu cầu cấp dưỡng một lần; tiền cấp dưỡng nuôi cha mẹ bị hại 2.000.000 đồng/tháng cho hai người và cấp dưỡng theo từng tháng.
Yêu cầu của chị H , bị cáo đồng ý số tiền mai táng phí, các phần khác đồng ý bồi thường nhưng yêu cầu xem xét mức bồi thường theo quy định của pháp luật.
Xét yêu cầu của chị H thấy rằng, tiền tổn thất về mặt tinh thần 149.000.000 đồng và mai táng phí 51.500.000 đồng là phù hợp (tổng cộng là 200.500.000 đồng). Đối với tiền cấp dưỡng nuôi con của bị hại mỗi người mỗi tháng 2.500.000 đồng và cấp dưỡng cho cha và mẹ của bị hại mỗi người mỗi tháng 1.000.000 đồng xét thấy phù hợp nên được chấp nhận.
Do các bên không thỏa thuận được việc cấp dưỡng cho các con của bị hại thực hiện một lần nên buộc bị cáo thực hiện theo từng tháng. Tiền cấp dưỡng cho cha, mẹ của bị hại được thực hiện theo từng tháng.
Về xử lý vật chứng: Đối với 01 (một) điện thoại di động hiệu NOKIA, loại 110, màu đen, số seri 1: 355777101201410, số seri 2: 355777102201419, được gắn 1 sim 1 số 0354278620, sim 2 số 0782897964 (do bà Lê Thị H giao nộp). Đây là điện thoại của bị hại sử dụng được trả lại cho chị H .
Đối với 01 điện thoại di động hiệu FORME, màu xanh đen trắng, số IMEI 1: 354233101103702, số IMEI 2: 354233101103710, có gắn sim số 0986455644 (do bà Đoàn Thị Th giao nộp). Đây là tài sản của bị cáo Đ nên tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án cho bị cáo.
Đối với các vật chứng đã thu giữ khác trong đó có vật không có yêu cầu nhận lại và không còn giá trị sử dụng tịch thu tiêu hủy.
Về án phí: Bị cáo Đoàn Văn Đ phải chịu án phí theo luật định.
Quan điểm của Kiểm sát viên; quan điểm của người bào chữa; quan điểm của người bảo vệ quyền lợi cho đại diện hợp pháp của bị hại có phần không phù hợp với quan điểm của Hội đồng xét xử.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Đoàn Văn Đ phạm “Tội giết người”.
Áp dụng điểm q khoản 1 Điều 123; Đ b, r, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Đoàn Văn Đ 20 (Hai mươi) năm tù. Thời hạn tù được tính từ ngày 14/9/2022.
2. Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 Bộ luật Hình sự; Điều 591 Bộ luật Dân sự năm 2015.
Buộc bị cáo Đoàn Văn Đ bồi thường cho đại diện hợp pháp của bị hại số tiền 200.500.000 (Hai trăm triệu năm trăm ngàn) đồng. Do chị Lê Thị H nhận thay.
Buộc bị cáo Đoàn Văn Đ cấp dưỡng cho các con của bị hại là Trần Minh N (sinh ngày 30/6/2006) đến 18 tuổi mỗi tháng là 2.500.000 (hai triệu năm trăm ngàn) đồng; cấp dưỡng nuôi Trần Trọng Kh (sinh ngày 14/02/2014) đến 18 tuổi mỗi tháng 2.500.000 (hai triệu năm trăm ngàn) đồng; cấp dưỡng nuôi cha mẹ của bị hại là ông Trần Văn B và bà Phạm Thị Th mỗi người mỗi tháng 1.000.000 đồng cho đến khi qua đời.
Thời gian cấp dưỡng được tính từ ngày 10 tháng 9 năm 2022.
Tiếp tục tạm giữ số tiền 4.000.000 (Bốn triệu) đồng theo Biên lai thu số 0002143 ngày 21/3/2023 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bến Tre để đảm bảo thi hành án cho bị cáo.
Kể từ ngày Bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường H cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền chưa được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357 và khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.
3. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự.
- Trả cho người đại diện hợp pháp của bị hại khi bản án có hiệu lực pháp luật gồm: Một điện thoại trong 01 (một) phong bì màu trắng được niêm phong, trên phong bì có ghi chữ 01 điện thoại di động hiệu NOKIA, loại 110, màu đen, số seri 1: 355777101201410, số seri 2: 355777102201419, được gắn sim 1 số 0354278620, sim 2 số 0782897964.
- Tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án cho bị cáo Đoàn Văn Đ : Một điện thoại trong 01 (một) phong bì màu trắng được niêm phong, trên phong bì có ghi chữ 01 điện thoại di động hiệu FORME, màu xanh đen trắng, số IMEI 1: 354233101103702, số IMEI 2: 354233101103710, có gắn sim số 0986455644.
- Tịch thu tiêu hủy đồ vật khi bản án có hiệu lực pháp luật gồm:
+ 01 (một) bật lửa màu vàng và nhựa trong suốt nhìn thấy bên trong, bên trong có hai viên xí ngầu nằm trong chất lỏng, 01 viên màu vàng chấm đen và 01 viên màu đỏ chấm đen;
+ 01 (một) tua vít có chiều dài 28cm, cán bằng nhựa màu đỏ đen dài 13cm, phần lưỡi bằng kim loại dài 15cm đã bị rĩ sét.
(Đồ vật trên theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 21/3/2023 hiện Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bến Tre đang quản lý).
4. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 và Điều 26 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội về án phí, lệ phí Tòa án.
Về án phí: Bị cáo Đoàn Văn Đ phải nộp là 200.000 (Hai trăm ngàn) đồng án phí hình sự sơ thẩm; 10.025.000 (Mười triệu không trăm hai mươi lăm ngàn) đồng án phí dân sự sơ thẩm và án phí về cấp dưỡng là 300.000 (ba trăm ngàn) đồng.
5. Trong hạn mười lăm ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm bị cáo, người đại diện H pháp của bị hại có quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án cấp trên xét xử phúc thẩm.
6. Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự. Nơi nhận:
| - VKS nhân dân cấp cao tại TP.HCM (1b); - Vụ GĐKT I – Tòa án nhân dân tối cao (1b); - VKS nhân dân tỉnh Bến Tre (1b); - Phòng Hồ sơ nghiệp vụ - CA tỉnh Bến Tre (1b); - Cơ quan CSĐT - Công an tỉnh Bến Tre (1b); - Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bến Tre (1b); - Sở Tư pháp tỉnh Bến Tre (1b); - UBND xã C , h. M (1b); - Bị cáo (1b); - Người đại diện H pháp của bị hại (1b); - Trại tạm giam CA tỉnh Bến Tre (1b); - Tòa Hình sự, Phòng KTNV&THA, Văn phòng TAND tỉnh Bến Tre (6b). - Lưu Hồ sơ vụ án (1b). | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Phạm Văn Tỉnh |