vanban.org

Bản án 23/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Thường Tín, TP. Hà Nội Tuyên án 04/04/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Dương Văn Q phạm tội Trộm cắp tài sản;

Xử phạt Dương Văn Q 18 (mười tám) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 36 (ba mươi sáu) tháng kể từ ngày tuyên án. Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân thị trấn M, huyện P, thành phố Hà Nội giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Dương Văn Q phạm tội Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Dương Văn Q phạm tội Trộm cắp tài sản;
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN THƢỜNG TÍN
THÀNH PHỐ HÀ NỘI
–––––––––––––––

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 23/2023/HS-ST
Ngày 04 tháng 4 năm 2023

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THƢỜNG TÍN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Anh Tuấn Các Hội thẩm nhân dân: Ông Dương Minh Khương và bà Nguyễn Thị Hà

- Thƣ ký phiên tòa: Bà Đặng Thị Thanh Huyền – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thường Tín

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thƣờng Tín tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Khắc Quang - Kiểm sát viên.

Ngày 04 tháng 4 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thường Tín xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 15/2023/TLST-HS ngày 15 tháng 3 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 14/2023/QĐXXST-HS ngày 22 tháng 3 năm 2023 đối với bị cáo:

Dương Văn Q, sinh ngày 06/3/2004 tại Hà Nội; Trú tại: Tổ dân G, thị trấn M, huyện P, thành phố Hà Nội; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Trình độ văn hóa: 11/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông Dương Văn T và bà Vũ Thị P; Chưa vợ, con; Tiền án, tiền sự: không; Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 21/12/2022 đến ngày 29/12/2022 (Có mặt).

- Bị hại: Công ty cổ phần F; Trụ sở: Số X, phường Y, Quận M, thành phố Hồ Chí Minh; Người đại diện theo pháp luật: Ông Hoàng Trung K - Tổng giám đốc; Người đại diện theo ủy quyền: Chị Phạm Thị Thúy H, sinh năm 1991; địa chỉ: Thôn T1, xã Q, huyện T, TP Hà Nội (Có đơn xin xử vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Dương Văn Q là nhân viên thực tập tại Cửa hàng F, địa chỉ: Phố G, thị trấn TT, huyện T, TP Hà Nội từ ngày 05/12/2022. Trong quá trình làm việc tại cửa hàng, Q thấy việc kiểm soát tài sản của cửa hàng lỏng lẻo nên nảy sinh ý định trộm cắp, cụ thể:

Vụ thứ nhất: Ngày 13/12/2022, trong lúc làm việc Q phát hiện thấy 01 hộp đựng điện thoại Samsung Z Flip 4 màu đen ở trên tủ đồ đựng máy chuyển đi, Q quan sát xung quanh thấy không có ai để ý nên đã cầm hộp điện thoại trên cho vào túi áo khoác và đi ra nhà vệ sinh phía sau cửa hàng. Tại đây, Q xé vỏ hộp điện thoại, lấy chiếc điện thoại Samsung Z Flip 4 128GB màu vàng ở bên trong cất vào túi quần trước bên phải và vứt vỏ hộp qua cửa thông gió nhà vệ sinh. Sau đó, Q quay lại cửa hàng làm việc đến hết giờ thì về nhà cất giấu điện thoại vào tủ quần áo phòng ngủ của mình.

Vụ thứ hai: Ngày 19/12/2022, khi Q chuyển các điện thoại ở kệ trưng bày để cất trong kho thì thấy có một chiếc hộp đựng điện thoại Iphone 13 để trên quầy gia dụng. Q quan sát xung quanh không có ai để ý nên đã lấy hộp điện thoại giấu vào túi áo khoác bên trái đang mặc rồi đi vào nhà vệ sinh bóc vỏ hộp lấy chiếc điện thoại Iphone 13 128GB màu hồng đút vào túi quần trước bên phải, phần vỏ hộp vứt qua cửa thông gió nhà vệ sinh. Sau đó, Q đi ra làm việc tiếp đến hết giờ thì về nhà cất giấu điện thoại vào tủ quần áo phòng ngủ của mình.

Tại Bản kết luận định giá tài sản số 77/KL-HĐĐG ngày 26/12/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Thường Tín kết luận:

- 01 chiếc điện thoại Iphone 13 thường màu hồng 128Gb, mới chưa đưa vào sử dụng bị mất trộm ngày 19/12/2022 có giá 17.900.000 đồng.

- 01 chiếc điện thoại Samsung Z Flip 4 màu vàng 128Gb, mới chưa đưa vào sử dụng, bị mất trộm ngày 13/12/2022 có giá 20.900.000 đồng.

Tại Cáo trạng số 13/CT-VKSTT ngày 15/3/2023, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thường Tín đã truy tố Dương Văn Q về tội Trộm cắp tài sản theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự

Tại phiên tòa, Đại diện viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị: Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 65 của Bộ luật hình sự, xử phạt Dương Văn Q từ 18 - 24 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 36 - 48 tháng về tội Trộm cắp tài sản.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo khai nhận đã thực hiện hành vi phạm tội như nội dung nêu trên. Xét lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, người làm chứng, cũng như các chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận:

Dương Văn Q là nhân viên thực tập của Cửa hàng F, địa chỉ: Phố G, thị trấn TT, huyện T, TP Hà Nội. Ngày 13/12/2022, Q đã lấy trộm 01 điện thoại Samsung Z Flip 4 trị giá 20.900.000 đồng; ngày 19/12/2022, Q lấy trộm 01 điện thoại Iphone 13 128GB trị giá 17.900.000 đồng, của cửa hàng, mang về nhà cất giữ. Hành vi của bị cáo đã phạm tội Trộm cắp tài sản theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự với tình tiết tăng nặng "phạm tội 02 lần trở lên" theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự.

Hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác, gây mất an ninh trật tự tại phương do đó cần áp dụng hình phạt tương xứng để giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành người tốt cũng như răn đe những người khác không phạm tội.

Khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử cũng nhận thấy bị cáo vừa mới qua tuổi 18, có nhân thân tốt, sau khi phạm tội đã đầu thú, khai báo thành khẩn và ăn năn hối cải; hai lần phạm tội đều thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; tài sản trộm cắp đã thu hồi trả bị hại; bị cáo đã tự nguyện bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả, người bị hại xin giảm nhẹ cho bị cáo, đây là những tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự được áp dụng để giảm nhẹ một phần hình phạt và cho bị cáo được hưởng án treo là phù hợp.

Về trách nhiệm dân sự: Dương Văn Q đã bồi thường số tiền 10.000.000 đồng cho bị hại. Người bị hại đã nhận đủ số tiền trên và đã được nhận lại tài sản nên không có yêu cầu đề nghị gì khác.

Về xử lý vật chứng: Quá trình điều tra, cơ quan điều tra đã trả lại tài sản đã thu giữ theo quy định của pháp luật.

Bị cáo phải chịu án phí hình sự theo quy định của pháp luật.

Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử, Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện các hành vi, ra các quyết định tố tụng hợp pháp theo quy định của pháp luật về tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tuyên bố bị cáo Dương Văn Q phạm tội Trộm cắp tài sản;

Xử phạt Dương Văn Q 18 (mười tám) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 36 (ba mươi sáu) tháng kể từ ngày tuyên án.

Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân thị trấn M, huyện P, thành phố Hà Nội giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

2. Áp dụng Điều 135 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội: Bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Cỡ chữ