vanban.org

Bản án 23/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh Tuyên án 30/03/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Trần Văn T phạm tội “Tổ chức cho người khác xuất cảnh, nhập cảnh trái phép”

Xử phạt bị cáo Trần Văn T 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù, thời gian chấp hành án phạt tù tính từ ngày 08/11/2022. Biện pháp tư pháp: căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự, Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Văn T - phạm tội tổ chức, môi giới cho người khác xuất cảnh, nhập cảnh hoặc ở lại Việt Nam trái phép (điều 348 Luật sửa đổi, bổ sung mộ…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Trần Văn T phạm tội “Tổ chức cho người khác xuất cảnh, nhập cảnh trái phép”
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TÂN BIÊN
TỈNH TÂY NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 23/2023/HS-ST
Ngày 30-3-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN BIÊN, TỈNH TÂY NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Nguyễn Hoàng Hải.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Nguyễn Thị Tám;

2. Bà Nguyễn Thị Thân.

- Thư ký phiên tòa: bà Lê Huỳnh Như, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: ông Lê Đăng Kha – Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 3 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 08/2023/TLST-HS ngày 01 tháng 3 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 25/2023/QĐXXST-HS ngày 17 tháng 3 năm 2023 đối với bị cáo:

Trần Văn T, sinh năm 1982 tại tỉnh Đồng Tháp; Nơi cư trú: ấp K, xã L, huyện B, tỉnh Tây Ninh; nghề nghiệp: làm thuê; trình độ văn hóa (học vấn): không biết chữ; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: đạo Phật; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn T và bà Lương Thị K; có vợ tên Lê Thị D và 04 người con; tiền án, tiền sự: không có; bị bắt, tạm giữ từ ngày 08/11/2022 đến ngày 17/11/2022 chuyển sang tạm giam đến nay; có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 10 giờ 30 phút ngày 08/11/2022, Đàm Đức C, sinh ngày 23/8/1994, địa chỉ thôn H, xã Q, huyện S, tỉnh Tuyên Quang sử dụng điện thoại gắn sim số thuê bao 0973642137 gọi cho Trần Văn T thuê đón C từ Campuchia về Việt Nam để đón xe về Thành phố Hồ Chí Minh. T đồng ý và yêu cầu C đi đến đường 792, T điều khiển xe mô tô hiệu Honda loại Future biển số 70E1-254.94 từ nhà thuộc ấp K, xã L, huyện B, tỉnh Tây Ninh đến khu vực đường 792 đối diện cột mốc biên giời 111/5. Khoảng 11 giờ 20 phút, T điều khiển xe chở C ra bến xe khu vực cửa khẩu Xa Mát để đi về Thành phố Hồ Chí Minh. Khi đến chốt phòng chống dịch Covid-19 số 11 thuộc Đồn Biên phòng cửa khẩu Chàng Riệc thì bị tổ công tác phát hiện có biểu hiện nghi vấn nên dừng phương tiện kiểm tra.

Tại cơ quan điều tra, Trần Văn T đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình. Quá trình điều tra xác định: Đàm Đức C quen người đàn ông Việt Nam sinh sống tại Campuchia qua mạng xã hội Facebook. Sau đó người đàn ông sử dụng số điện thoại 0085592222962 liên lạc thuê C sang Campuchia trang trí nội thất phòng Karaoke và được C đồng ý. Ngày 05/11/2022, C đi từ Thành phố Hồ Chí Minh đến nhà nghỉ N thuộc xã L, huyện B, tỉnh Tây Ninh. Sau đó người đàn ông Campuchia sử dụng số điện thoại 0975559972 liên lạc thuê Trần Văn T đón C và đưa sang Campuchia bằng đường tiểu ngạch. Khoảng 05 giờ 30 phút ngày 06/11/2022, T đến nhà nghỉ N đón và chở C đến khu vực đối diện cột mốc 111/5, hướng dẫn C đi bộ qua biên giới sẽ có xe ôm người Campuchia đón. C thanh toán tiền công cho T số tiền 700.000 đồng.

Kết luận giám định số 1509/KL-KTHS ngày 29/11/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Tây Ninh kết luận: 01 (một) xe mô tô Honda Future sơn màu đỏ-đen, số khung RLHJC5383EZ004766, số máy JC54E-3008137 (được ký hiệu số 287.GT): Số khung và số máy không bị đục sửa.

Cáo trạng số 13/CT-VKSTB ngày 28 tháng 02 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh truy tố bị cáo Trần Văn T về tội “Tổ chức cho người khác xuất cảnh, nhập cảnh trái phép” theo quy định tại khoản 1 Điều 348 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Biên giữ nguyên quan điểm truy tố. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Trần Văn T phạm tội “Tổ chức cho người khác xuất cảnh, nhập cảnh trái phép” và đề nghị Hội đồng xét xử:

Căn cứ khoản 1 Điều 348; các điểm r, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Trần Văn T từ 15 (mười lăm) tháng tù đến 18 (mười tám) tháng tù về tội “Tổ chức cho người khác xuất cảnh, nhập cảnh trái phép”.

Hình phạt bổ sung: không áp dụng hình phạt bổ sung với bị cáo.

Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự, Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử xử lý vật chứng theo quy định của pháp luật.

Bị cáo Trần Văn T thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Biên đã truy tố, bị cáo không có ý kiến tranh luận.

Bị cáo T nói lời sau cùng: trong thời gian bị tạm giam, bị cáo biết việc làm của mình là sai, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tính hợp pháp của hành vi, quyết định tố tụng: Hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Tân Biên, Cơ quan An ninh điều tra Công an tỉnh Tây Ninh, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Biên, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh, Kiểm sát viên trong quá trình khởi tố, điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến và không khiếu nại về hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của Cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của Cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về hành vi của bị cáo: Trần Văn T biết Đàm Đức C không có hộ chiếu, giấy tờ hợp pháp để xuất nhập cảnh qua cửa khẩu biên giới nhưng vì vụ lợi nên khoảng 05 giờ 30 phút ngày 06/11/2022, T sử dụng xe mô tô hiệu Honda loại Future biển số 70E1-254.95 chở C từ chợ L đến khu vực cột mốc biên giới số 111/5 thuộc ấp K, xã L, huyện B, tỉnh Tây Ninh và hướng dẫn C đi bộ xuất cảnh trái phép sang Campuchia, T thu lợi số tiền 700.000 đồng.

Đến khoảng 10 giờ 30 phút ngày 08/11/2022, T điều khiển xe đến khu vực cột mốc biên giới số 111/5 thuộc ấp K, xã L, huyện B, tỉnh Tây Ninh đón C nhập cảnh trái phép từ Campuchia về Việt Nam để thu lợi số tiền 700.000 đồng. Trên đường đưa C đến bến xe về Thành phố Hồ Chí Minh thì bị Chốt phòng chống dịch số 11 Đồn Biên phòng cửa khẩu Chàng Riệc phát hiện có biểu hiện nghi vấn ra hiệu lệnh dừng phương tiện kiểm tra.

Hành vi của Trần Văn T đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tổ chức cho người khác xuất cảnh, nhập cảnh trái phép” theo quy định tại khoản 1 Điều 348 của Bộ luật Hình sự.

Cáo trạng số 13/CT–VKSTB ngày 28/02/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh truy tố bị cáo Trần Văn T có căn cứ.

Tính chất, mức độ của hành vi phạm tội: Vụ án mang tính chất nghiêm trọng, hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm trật tự quản lý hành chính trong lĩnh vực xuất cảnh, nhập cảnh; xâm phạm đến hoạt động bình thường, đúng đắn của các cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội, làm giảm hiệu quả và hiệu lực quản lý hành chính nhà nước trong lĩnh vực xuất cảnh, nhập cảnh, cư trú ở Việt Nam. Bị cáo là người thành niên, đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự, có khả năng nhận thức, điều khiển hành vi của mình nhưng vì vụ lợi nên đã cố ý thực hiện tội phạm. Vì vậy cần xử phạt bị cáo mức hình phạt nghiêm khắc để đảm bảo tính răn đe, giáo dục, phòng ngừa tội phạm.

Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: không có.

Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: quá trình điều tra, truy tố và xét xử tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo đầy đủ, đúng sự thật những tình tiết liên quan đến hành vi phạm tội đã thực hiện và tự khai nhận hành vi phạm tội của mình trước đó; bị cáo có mẹ ruột là cụ Lương Thị K được tặng thưởng Huân chương Kháng chiến hạng nhì. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm r, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần trách nhiệm hình sự khi quyết định hình phạt đối với bị cáo.

Hình phạt áp dụng:

Hình phạt chính: căn cứ vào tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo, xét thấy cần cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt, sống có ích cho gia đình và xã hội, đảm bảo tính răn đe, phòng ngừa tội phạm. Căn cứ Điều 38 của Bộ luật Hình sự, Hội đồng xét xử áp dụng hình phạt tù có thời hạn để quyết định hình phạt đối với bị cáo.

Hình phạt bổ sung: bị cáo không có tài sản, nghề nghiệp, công việc nhất định nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Đối với người Campuachia sử dụng số điện thoại 0975559972 và người đàn ông Việt Nam sử dụng số điện thoại 0085592222962 không xác định được nhân thân, lý lịch, Cơ quan Cảnh sát điều tra chưa tiến hành làm việc được.

- Hành vi qua lại biên giới quốc gia mà không làm thủ tục nhập cảnh theo quy định của Đàm Đức C, ngày 08/11/2022, Đồn trưởng Đồn Biên phòng cửa khẩu Chàng Riệc ban hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính số tiền 4.000.000 đồng là có căn cứ.

Biện pháp tư pháp: căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: 01 (một) điện thoại di động hiệu Oppo màu đỏ số Imei1 868476036009176, số Imei2 868476036009168 gắn sim số 0348938495 và sim số 0884946536; 01 (một) xe mô tô hiệu Honda biển số 70E1-254.94, số máy JC54E3008137, số khung RLHJC5383EZ004766; 01 (một) giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy số 70003875 bị cáo sử dụng làm phương tiện để liên lạc, vận chuyển Đàm Đức C xuất cảnh, nhập cảnh trái phép. Hội đồng xét xử tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước đối với 01 (một) điện thoại di động hiệu Oppo màu đỏ; 01 (một) xe mô tô hiệu Honda biển số 70E1-254.94 và 01 (một) giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy; tịch thu tiêu hủy sim số 0348938495 và sim số 0884946536.

(Vật chứng đang được tạm giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Biên và có đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng ngày 08/02/2023).

- Số tiền 700.000 đồng bị cáo thu lợi bất hợp pháp từ hành vi tổ chức cho Đàm Đức C xuất cảnh trái phép ngày 06/11/2022, Hội đồng xét xử truy tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước.

Về án phí: căn cứ Điều 135, Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, bị cáo Trần Văn T phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Trần Văn T phạm tội “Tổ chức cho người khác xuất cảnh, nhập cảnh trái phép”

- Căn cứ vào khoản 1 Điều 348; các điểm r, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Trần Văn T 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù, thời gian chấp hành án phạt tù tính từ ngày 08/11/2022.

2. Biện pháp tư pháp: căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự, Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:

- Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước 01 (một) điện thoại di động hiệu Oppo màu đỏ số Imei1 868476036009176, số Imei2 868476036009168; 01 (một) xe mô tô hiệu Honda biển số 70E1-254.94, số máy JC54E3008137, số khung RLHJC5383EZ004766; 01 (một) giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy số 70003875 của bị cáo T.

- Tịch thu tiêu hủy sim số 0348938495 và sim số 0884946536.

(Vật chứng đang được tạm giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Biên và có đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng ngày 08/02/2023).

- Truy tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước số tiền 700.000 (bảy trăm nghìn) đồng của bị cáo Trần Văn T.

3. Về án phí: căn cứ các điều 135, 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị cáo Trần Văn T phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ