- Tranh chấp gì? án hình sự — "bị cáo Vũ Văn C phạm tội “Vận chuyển hàng cấm”. - phạm tội tàng trữ, vận chuyển hàng cấm (điều 191 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLH…"
- Tòa quyết gì? Điểm c khoản 1 Điều 191; điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 65 BLHS.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ BÌNH CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TỈNH THÁI NGUYÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 23/2023/HS-ST Ngày: 23/02/2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ BÌNH, TỈNH THÁI NGUYÊN
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Hồng Mây
- Thư ký phiên tòa: Bà Trịnh Thị Minh Hải - Thư ký Tòa án nhân dân
huyện P, tỉnh Thái Nguyên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện P tham gia phiên tòa: Ông Bùi
Việt Hưng - Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 02 năm 2023, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân huyện
P, tỉnh Thái Nguyên mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự áp dụng theo thủ tục rút gọn thụ lý số 17/2023/TLST-HS, ngày 07 tháng 02 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 16/2023/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 02 năm 2023, đối với bị cáo:
Họ và tên: Vũ Văn C (Tên gọi khác: Không), sinh năm 1995
Nơi ĐKNKTT và chỗ ở: Xóm H, xã H, thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái
Nguyên;
Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: công giáo; Giới tính: Nam;
Nghề nghiệp: Lái xe; Trình độ văn hóa 9/12; Tiền án, tiền sự: Không.
Con ông Vũ Văn Đ, sinh năm 1974 và bà Phạm Thị M, sinh năm 1976 ; Gia
đình có 02 anh em, bị cáo là con thứ nhất trong gia đình, có vợ là Nguyễn Thị T, sinh năm 1998; Có 02 con, con lớn sinh năm 2017, con nhỏ sinh năm 2019 (đã chết); Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 16/12/2022 đến ngày 04/01/2023 thì được áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Hiện bị cáo đang tại ngoại tại địa phương – Có mặt tại phiên tòa.
Người có quyền lợi liên quan: Ông Vũ Văn Đ, sinh năm 1974
Nơi cư trú: Xóm H, xã H, thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên – Có
mặt
Người chứng kiến: Anh Hoàng Đức A, sinh năm 1999 – vắng mặt
Nơi cư trú: Xóm Tân Sơn, xã X, huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung
vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 16 giờ 10 phút ngày 16/12/2022, tổ công tác Công an huyện P làm nhiệm vụ tại khu vực xóm K, xã X, huyện P kiểm tra hành chính và phát hiện thu giữ tại giá đỡ xe mô tô Honda Dream do C điều khiển 01 bao tải dứa màu trắng, bên trong chứa nhiều trụ hình tròn nghi là pháo nổ. Tổ công tác lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với C, thu giữ, niêm phong vật chứng ký hiệu A theo quy định.
Cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện P tiến hành mở niêm
phong, cân xác định khối lượng số vật chứng thu giữ của Vũ Văn C là 7,8kg. Lấy toàn bộ gửi giám định.
Tại bản kết luận giám định số 50 ngày 24/12/2022 của Phòng kỹ thuật hình
sự Công an tỉnh Thái Nguyên kết luận: 05 khối hình hộp chữ nhật có đặc điểm tương đồng, mỗi khối có kích thước 17x17x10cm, bên ngoài bọc giấy nhiều màu sắc, hoa văn và in chữ nước ngoài, bên trong có 49 vật hình trụ tròn, mỗi vật có đường kính 2,4cm, chiều dài 10cm, có tổng khối lượng là 7,8kg được niêm phong trong thùng catton ký hiệu A1 là pháo nổ (pháo hoa nổ) .
Tại Cơ quan điều tra, Vũ Văn C khai nhận: khoảng 15 giờ ngày
16/12/2022, C điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 29K1-7072 đi một mình từ nhà đến khu vực xóm K, xã X, huyện P để mua pháo nổ về chơi tết Nguyên đán. Khi đến khu vực theo thỏa thuận trước trên mạng xã hội C gặp một người đàn ông không quen biết và mua 05 bệ pháo hoa nổ với số tiền là 5.000.000₫ (năm triệu đồng). Khi C đi được khoảng 300m thì lực lượng Công an kiểm tra C đã tự giác giao nộp 05 bệ pháo hoa nổ được cất trong bao tải dứa màu trắng để trước giá để xe của C cho lực lượng Công an. Sau đó lực lượng Công an đã lập biên bản, niêm phong 05 bệ pháo của C và đưa C về Cơ quan Công an để tiếp tục làm rõ.
Vật chứng của vụ án gồm: 7,8 kg pháo nổ hiện đã được giám định hết; 01 xe
mô tô biển kiểm soát 29K1-7072 nhãn hiệu Honda Dream, cũ đã qua sử dụng; 01 phong bì niêm phong còn nguyên vẹn ký hiệu CC, bên trong có 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone X màu trắng, cũ, đã qua sử dụng; 01 bao tải dứa nền màu trắng, bên trên in hình nhiều màu sắc.
Tại Quyết định truy tố theo thủ tục rút gọn số 02/QĐ-VKSPB ngày
06/02/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện P, tỉnh Thái Nguyên truy tố bị cáo Vũ Văn C về tội: Vận chuyển hàng cấm” theo điểm c khoản 1 Điều 191 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa bị cáo Vũ Văn C khoảng 15 giờ ngày 16/12/2022, C mượn xe
mô tô nhãn hiệu Honda Dream 29K1-7072 của bố là ông Vũ Văn Đ, mục đích để đi sang khu vực xóm K, xã X, huyện P để mua pháo nổ về đốt Tết Nguyên đán. Khi đến nơi hẹn gặp đã giao dịch trước với nhau trên mạng xã hội, Hùng gặp 01 người đàn ông không rõ tên tuổi địa chỉ và mua được của người này 05 bệ pháo nổ đựng trong bao tải với giá 5.000.000 đồng. Sau khi mua được pháo, Hùng đi khoảng 300m thì bị tổ công tác của cơ quan công an kiểm tra như đã nêu trên.
Ông Vũ Văn Đ khai: Về quan hệ gia đình, C là con trai ông ngày
16/12/2022, C mượn ông chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Dream 29K1-7072 chỉ hỏi mượn chứ không nói gì thêm. Đến khi cơ quan công an thông báo ông mới biết là xe bị cơ quan công an giữ do C dùng xe đi mua pháo về đốt tết. Ông Đ xác định đây là tài sản hợp pháp của ông và đề nghị được xin lại xe mô tô để sử dụng.
Kết thúc xét hỏi, vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện P trình bày luận
tội đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố: Bị cáo Vũ Văn C phạm tội “Vận chuyển hàng cấm”.
Áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 191; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 65
của Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Vũ Văn C từ 24 đến 30 tháng tù, cho hưởng án treo. Thời gian thử thách từ 48 đến 60 tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Đề nghị không áp dụng phạt bổ sung bị cáo Vũ Văn C.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật hình sự và Điều 106 của
Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 bao tải dứa màu trắng, bên trên in hình nhiều màu sắc; Tịch thu sung công quỹ Nhà nước 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone X màu trắng, cũ, đã qua sử dụng ; Trả lại ông Vũ Văn Đ 01 xe mô tô BKS 29K1 - 7072. Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Bị cáo không tranh luận thừa nhận việc truy tố và xét xử là không oan,
đúng người, đúng tội và xin giảm nhẹ mức án.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã
được tranh tụng tại phiên tòa, Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa nhận định như sau:
. Nhận định về thẩm quyền áp dụng thủ tục rút gọn: Vụ án được Cơ
quan cảnh sát điều tra Công an huyện P, Viện kiểm sát nhân dân và Tòa án nhân dân huyện P áp dụng thủ tục rút gọn đã đảm bảo đúng phạm vi, điều kiện, trình tự thủ tục, thời hạn theo quy định tại các Điều 455, Điều 456, Điều 457, Điều 460, Điều 461 Bộ luật tố tụng hình sự.
. Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Cơ quan Cảnh sát
điều tra Công an huyện P, Kiểm sát viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện P, tỉnh Thái Nguyên, trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, Người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
. Về căn cứ buộc tội: Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận: Hồi 15 giờ phút
ngày 16/12/2022 tại khu vực xóm K, xã X, huyện P, tỉnh Thái Nguyên, C đang vận chuyển 7,8 kg pháo nổ mục đích mang về nhà để đốt trong dịp tết Nguyên đán thì bị tổ công tác Công an huyện P phát hiện bắt quả tang cùng vật chứng. Xét lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa thống nhất với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với Biên bản bắt người phạm tội quả tang, lời khai của người chứng kiến, Kết luận giám định và vật chứng thu giữ được cùng các tài liệu khác thu thập được trong quá trình điều tra vụ án. Như vậy ý thức và hành vi của bị cáo Vũ Văn C đã đủ yếu tố cấu thành tội “Vận chuyển hàng cấm”, theo điểm c khoản 1 Điều 191 của Bộ luật hình sự. Bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện P đã truy tố bị cáo về tội danh và điều luật nêu trên là có căn cứ đúng pháp luật. Nội dung Điều luật quy định như sau:
“Điều 191.Tội tàng trữ, vận chuyển hàng cấm:
“1. Người nào vận chuyển hàng cấm thuộc một trong các trường hợp sau
đây, nếu không thuộc trường hợp quy định tại các điều 232, 234, 239, 244, 246, 249, 250, 253, 254, 304, 305, 306, 309 và 311 của Bộ luật này, thì bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 300.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:
a,…b,…
c, Pháo nổ từ 06 kilôgam đến dưới 40 kilôgam”
. Đánh giá tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, các
tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về quản lý, sản xuất, kinh doanh một số loại hàng cấm, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự an toàn xã hội. Hành vi đó của bị cáo cần phải xử lý bằng pháp luật hình sự nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra và tại phiên
tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải. Bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Do đó, bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết
nào quy định tại Điều 52 của Bộ luật hình sự.
Về nhân thân: Bị cáo xuất thân từ gia đình lương thiện có nhân thân tốt,
không có tiền án, tiền sự, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, bị cáo có nơi cư trú rõ ràng và ổn định. Từ các phân tích trên thấy có căn cứ chấp nhận lời đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa cho bị cáo được hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách, giao bị cáo cho chính quyền địa phương giám sát, giáo dục là cũng đủ tác dụng cải tạo, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.
Về hình phạt bổ sung: Hội đồng xét xử thấy bị cáo Vũ Văn C phạm tội
không nhằm mục đích thu lời bất chính do đó không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo.
. Ra lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú đối với bị cáo Vũ Văn C, buộc bị cáo
không được phép đi khỏi nơi cư trú kể từ ngày 23 tháng 02 năm 2023 cho đến khi bị cáo chấp hành bản án. Giao bị cáo cho chính quyền địa phương nơi cư trú để quản lý, theo dõi.
. Về xử lý vật chứng:
- Đối với vật chứng không còn giá trị sử dụng gồm 01 bao tải dứa màu
trắng, bên trên in hình nhiều màu sắc đã qua sử dụng cần tịch thu tiêu hủy;
- Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone X, màu trắng, máy cũ đã
qua sử dụng của Vũ Văn C. Xét thấy, bị cáo dùng để liên lạc mua pháo nổ, là công cụ, phương tiện phạm tội nên cần tịch thu sung công quỹ Nhà nước.
- Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Dream biển kiểm soát 29K1-7072,
cũ đã qua sử dụng. Xét thấy, đây là tài sản của ông Vũ Văn Đ mua để làm phương tiện đi lại, ông Đ không biết C mượn xe đi đâu, làm gì nên cần trả lại cho ông Đ tiếp tục quản lý, sử dụng.
. Về nguồn gốc số pháo C khai mua của một người đàn ông tại khu vực
xã X, huyện P. C không quen biết, cũng chưa gặp bao giờ, quá trình liên lạc giao dịch mua bán đều sử dụng mạng xã hội Facebook, zalo sau khi liên lạc C đã xóa hết tin nhắn liên lạc. Quá trình điều tra không đủ căn cứ xác định người đàn ông trên là ai nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện P không có căn cứ để xác minh làm rõ.
Đối với ông Vũ Văn Đ là chủ sở hữu của xe mô tô nhãn hiệu Honda Dream
biển kiểm soát 29K1-7072 không biết mục đích Hùng mượn xe để vận chuyển hàng cấm nên cơ quan điều tra đã không xử lý đối với ông Đ.
Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm sung quỹ Nhà nước.
Bị cáo và ông Đ có quyền kháng cáo bản án theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ, áp dụng pháp luật:
- Điểm c khoản 1 Điều 191; điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 65 BLHS.
- Điều 46, Điều 47, Điều 48 BLHS; Điều 106, Điều 123, khoản 2 Điều 136,
Điều 326, Điều 455, Điều 456, Điều 457, Điều 460, Điều 461 Bộ luật tố tụng hình sự.
- Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban
thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Vũ Văn C phạm tội “Vận chuyển hàng
cấm”.
2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Vũ Văn C 24(hai mươi bốn) tháng tù, cho
hưởng án treo. Thời gian thử thách là 48 (bốn mươi tám) tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo Vũ Văn C cho Ủy ban nhân dân xã H, thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật thi hành án hình sự.
Hậu quả của việc vi phạm nghĩa vụ trong thời gian thử thách: Trong thời gian
thử thách, người được hưởng án treo nếu cố ý vi phạm nghĩa vụ hai lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
3. Ra lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú đối với bị cáo Vũ Văn C buộc bị cáo
không được phép đi khỏi nơi cư trú kể từ ngày 23 tháng 2 năm 2023 cho đến khi bị cáo thi hành bản án. Giao bị cáo cho chính quyền địa phương nơi cư trú quản lý, theo dõi.
4. Về xử lý vật chứng và các biện pháp tư pháp:
- Tịch thu tiêu hủy 01 bao tải dứa màu trắng, bên trên in hình nhiều màu
sắc đã qua sử dụng;
- Tịch thu sung công quỹ Nhà nước 01 điện thoại Iphone X, màu trắng, cũ,
đã qua sử dụng được niêm phong còn nguyên vẹn ký hiệu CC, bên trong có 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone X, màu trắng, cũ, đã qua sử dụng của bị cáo Vũ Văn C.
- Trả lại ông Vũ Văn Đ: 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Dream biển kiểm
soát 20K1 - 7072 cũ đã qua sử dụng.
(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 08/2/2023 giữa Cơ quan cảnh sát
điều tra của Công an huyện P và Chi cục Thi hành án dân sự huyện P).
5. Án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Vũ Văn C phải phải nộp 200.000đ (Hai trăm
nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm sung quỹ Nhà nước.
6. Thông báo quyền kháng cáo: Án xử công khai, có mặt bị cáo và người
có quyền lợi liên quan báo cho biết có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (Mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án./. Nơi nhận:
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- TAND tỉnh Thái Nguyên;
- VKS ND tỉnh Thái Nguyên;
- VKS ND huyện P;
- Cơ quan điều tra CA huyện P;
- CQTHAHS Công an huyện P;
- CC T.H.A DS huyện P;
- Các Bị cáo;
- Sở tư pháp tỉnh Thái Nguyên;
Nguyễn Hồng Mây
- Lưu: HS, VP, T.H.A HS.
THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ
Nguyễn Hồng Mây
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Thái Nguyên; - VKS ND tỉnh Thái Nguyên; - VKS ND huyện P; - Cơ quan điều tra CA huyện P; - CQTHAHS Công an huyện P; - CC T.H.A DS huyện P; - Các Bị cáo; - Sở tư pháp tỉnh Thái Nguyên; - Lưu: HS, VP, T.H.A HS. | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Hồng Mây |