vanban.org

Bản án 23/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định Tuyên án 14/04/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Đức H phạm tội “Cướp giật tài sản”. Xử phạt bị cáo Nguyễn Đức H 18 (mười tám) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 24-12-2022.

Xử lý vật chứng: Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm c khoản 2, điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Trả lại cho chị Vũ Thị Ch 01 xe máy Honda SH màu trắng BKS 18H1-726.34. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Đức H - phạm tội cướp giật tài sản (điều 171 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Đức H phạm tội “Cướp giật tài sản”. Xử phạt bị cáo Nguyễn Đức H 18 (mười tám) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 24-12-2022.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN HẢI HẬU
TỈNH NAM ĐỊNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 23/2023/HS-ST
Ngày 14-4-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẢI HẬU, TỈNH NAM ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Ngô Thị Hòe.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đỗ Việt Hùng;

Bà Nguyễn Thị Thúy Mùi.

- Thư ký phiên toà: Bà Phạm Thị Hồng Thắm - Thư ký Toà án nhân dân huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định tham gia phiên toà: Ông Lại Minh Khôi - Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 4 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 20/2023/TLST-HS ngày 24 tháng 3 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 23/2023/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 4 năm 2023 đối với bị cáo:

Nguyễn Đức H, sinh năm 1974; nơi cư trú: Xóm 8, xã HH, huyện HH, tỉnh Nam Định; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Đức Huệ, sinh năm 1935 (đã chết), và bà Đỗ Thị Lan, sinh năm 1940, hiện nay cư trú tại Xóm 8, xã Hải Hà, huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định; bị cáo có vợ là Vũ Thị Ch, sinh năm 1982 và 2 con, con lớn nhất sinh năm 2000, con nhỏ sinh năm 2012;

Tiền án: Ngày 14/12/2020 bị TAND thị xã Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu xử 01 năm tù về tội “Cướp giật tài sản”, ngày 08/4/2021 chấp hành xong án phạt tù nhưng chưa thi hành án phí hình sự sơ thẩm;

Tiền sự: Không;

Nhân thân: Ngày 05/12/1990 bị Tòa án nhân dân huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định xử phạt 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 36 tháng về tội “Trộm cắp tài sản của công dân”; Ngày 15/9/1993 bị TAND tối cao tại Quảng Nam - Đà Nẵng xử 7 năm tù về tội “Cướp tài sản của Công dân” và tội “Trốn khỏi nơi giam giữ”. Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 24-12-2022 cho đến nay.

- Bị hại:

+ Bà Đặng Thị L, sinh năm 1968. Nơi cư trú: Tổ dân phố số 5, thị trấn C, huyện HH, tỉnh Nam Định.

- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Chị Vũ Thị Ch, sinh năm 1982. Nơi cư trú: Xóm 8, xã HH, huyện HH, tỉnh Nam Định.

- Người làm chứng:

+ Ông Lê Xuân V, sinh năm 1970;

+ Chị Nguyễn Thị L, sinh năm 1976.

(Có mặt bị cáo; vắng mặt bà L, chị Ch, chị L, ông V).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 10 giờ 15 phút ngày 23-12-2022, Nguyễn Đức H điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda SH màu trắng, biển kiểm soát (BKS) 18H1 – 726.34 từ nhà đi ra thị trấn Cồn, huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định để mua đồ thờ cúng cho gia đình. Khoảng 11 giờ 30 phút cùng ngày, khi đi qua cửa hàng bán giò chả của bà Đặng Thị L ở tổ dân phố số 5, thị trấn Cồn, huyện Hải Hậu, H dựng xe ở lề đường cách cửa hàng của bà L khoảng 2m rồi đến trước quầy hàng hỏi bà L mua 03 lạng giò. H đưa cho bà L 01 tờ tiền mệnh giá 200.000đồng, bà L nhận tiền và trả lại cho H 164.000đồng. H phát hiện đồng tiền mệnh giá 50.000đồng bị mất một góc nên nói bà L đổi lại tờ tiền khác. Bà L lấy từ trong người một tập tiền gồm nhiều tờ tiền có mệnh giá khác nhau. H nói “hình như miếng góc nó dính ở trong, chị kiểm tra có dính ở trong đó không?”, bà L trả lời “đâu, đâu”. H dùng tay trái cầm tập tiền trên tay bà L giũ ra, một số tờ tiền rơi xuống mặt bàn; H nảy sinh ý định chiếm đoạt số tiền. Lợi dụng lúc bà L đang kiểm tra và tìm cách ghép tờ tiền bị rách, không để ý, H dùng tay trái vơ toàn bộ số tiền trên mặt bàn cho vào túi quần bên trái đang mặc rồi bỏ chạy ra xe mô tô, mở khóa điện điều khiển xe tẩu thoát. Bà L hô “Cướp, cướp” rồi nhờ anh Lê Xuân Việt điều khiển xe mô tô chở bà L đuổi theo H nhưng không đuổi kịp. Về nhà, H bỏ ra kiểm tra số tiền vừa chiếm đoạt được 2.300.000đồng (gồm: 03 tờ mệnh giá 500.000đồng, 01 tờ mệnh giá 200.000đồng, 04 tờ mệnh giá 100.000đồng và 04 tờ mệnh giá 50.000đồng). Ngày 24/12/2022, Nguyễn Đức H đến Công an huyện Hải Hậu đầu thú, khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, giao nộp lại toàn bộ số tiền 2.300.000 đồng và xe mô tô BKS 18H1 – 726.34.

Cáo trạng số 22/CT-VKS-HH ngày 23-3-2023, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hải Hậu đã truy tố Nguyễn Đức H về tội “Cướp giật tài sản” theo khoản 1 Điều 171 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa:

- Bị cáo thành khẩn khai nhận đã thực hiện hành vi đúng như nội dung vụ án đã nêu trên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hải Hậu thực hành quyền công tố tại phiên toà giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội “Cướp giật tài sản” và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 171; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Đức H từ 18 tháng đến 24 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 24-12-2022.

Tranh luận tại phiên tòa: Bị cáo nhất trí với luận tội của đại diện Viện kiểm sát; không có ý kiến tranh luận.

Nói lời sau cùng: Bị cáo ăn năn, hối lỗi, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Hải Hậu, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hải Hậu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Lời khai của bị cáo Nguyễn Đức H tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra; lời khai của bị hại, người làm chứng và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 11 giờ 30 phút ngày 23/12/2022, tại cửa hàng bán giò chả của bà Đặng Thị L tại Tổ dân phố số 5, thị trấn Cồn, lợi dụng lúc bà L đang kiểm tra, tìm cách ghép tờ tiền bị mất góc, Nguyễn Đức H đã dùng tay trái vơ toàn bộ số tiền 2.300.000đồng trên mặt bàn bán hàng của bà L, điều khiển xe mô tô BKS 18H1 – 726.34 nhanh chóng tẩu thoát. Hành vi của Nguyễn Đức H đã đủ yếu tố cấu thành tội “Cướp giật tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 171 Bộ luật Hình sự. Cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Hải Hậu đã truy tố đối với bị cáo là có căn cứ.

Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo thì thấy: Hành vi của bị cáo không những xâm phạm quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của người khác được pháp luật và Nhà nước bảo hộ mà còn gây mất trật tự trị an xã hội, tác động xấu đến tình hình trật tự trị an tại địa phương. Chỉ vì muốn có tiền để tiêu xài cho bản thân bị cáo đã thực hiện hành vi cướp giật tài sản của người khác. Do đó, cần phải xử lý nghiêm hành vi phạm tôi của bị cáo nhằm răn đe, giáo dục bị cáo và đấu tranh phòng ngừa chung.

Xét nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo thì thấy: Bị cáo đã nhiều lần bị đưa ra xét xử. Mặc dù đã được xóa án tích nhưng bị cáo vẫn được xác định thuộc trường hợp nhân thân xấu. Ngày 14/12/2020, bị cáo bị TAND thị xã Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu xử 01 năm tù giam về tội “Cướp giật tài sản”, ngày 08/4/2021 chấp hành xong án phạt tù nhưng chưa thi hành án phí hình sự sơ thẩm. Lần này, bị cáo chưa được xóa án tích, lại tiếp tục phạm tội do cố ý nên bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Tái phạm” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo đã thành khẩn khai báo, thực sự ăn năn hối lỗi. Sau khi phạm tội, bị cáo đã đến cơ quan công an đầu thú khai báo về hành vi phạm tội của mình; bị cáo đã tự nguyện trả lại số tiền chiếm đoạt cho bị hại, được bị hại xin giảm nhẹ hình phạt. Ngoài ra, bị cáo có bố đẻ được tặng thưởng Huân chương chiến sỹ vẻ vang hạng Ba, Huân chương kháng chiến chống Mỹ cứu nước hạng Nhất; mẹ đẻ được tặng thưởng Huân chương kháng chiến chống Mỹ cứu nước hạng Ba. Do đó, bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Xét đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hải Hậu tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, Hội đồng xét xử thấy: Bị cáo đã thành niên, đủ khả năng nhận thức, làm chủ hành vi nhưng vì muốn có tiền tiêu sài cá nhân mà thực hiện hành vi chiếm đoạt trái phép tài sản của người khác. Do đó, bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi của mình. Tuy nhiên, xét bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ nên cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo khi lượng hình như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là phù hợp.

Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo làm nghề tự do, thu nhập không ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra, bà Đặng Thị L đã nhận lại đủ số tiền 2.300.000đ. Sau khi nhận tiền, bà L không yêu cầu bồi thường dân sự nên về trách nhiệm dân sự Hội đồng xét xử không giải quyết.

Về xử lý vật chứng: Chiếc xe máy Honda SH màu trắng, BKS 18H1-726.34 là tài sản của chị Vũ Thị Ch. Chị Ch không biết bị cáo sử dụng để đi thực hiện hành vi phạm tội nên cần trả lại cho chị Ch quản lý, sử dụng là phù hợp.

Về án phí hình sự sơ thẩm: Buộc bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ khoản 1 Điều 171; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Đức H phạm tội “Cướp giật tài sản”. Xử phạt bị cáo Nguyễn Đức H 18 (mười tám) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 24-12-2022.

2. Xử lý vật chứng: Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm c khoản 2, điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

- Trả lại cho chị Vũ Thị Ch 01 xe máy Honda SH màu trắng BKS 18H1-726.34.

(Vật chứng nêu trên được mô tả theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 07/4/2023 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Hải Hậu và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hải Hậu).

3. Án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/NQ- UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án: Buộc bị cáo Nguyễn Đức H phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì bị cáo có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án. Thời hạn thi hành án thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ