- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bản án Nguyễn Hoàng Ph phạm tội Trộm cắp tài sản và Nguyễn Đức T phạm tội Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có - phạm tội trộm cắ…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hoàng Ph phạm tội “Trộm cắp tài sản” và bị cáo Nguyễn Đức T phạm tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Đ TỈNH LÂM ĐỒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 23/2023/HS-ST Ngày: 21-02-2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Đ, TỈNH LÂM ĐỒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa Phên tòa: Ông Trần Thanh Long
Các Hội thẩm nhân dân: 1/ Ông Lưu Văn Lợi
2/ Bà Nguyễn Thị Lan Hương
Thư ký Phên tòa: Ông Nguyễn Văn Tấn – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ tham gia Phên tòa: Bà Nguyễn Thị Hương - Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 02 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đ xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 13/2023/TLST-HS ngày 02 tháng 02 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 31/2023/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 02 năm 2023 đối với các bị cáo:
1. Họ và tên: Nguyễn Hoàng Ph, giới tính: Nam; sinh ngày 13/03/1997 tại Ninh Thuận, HKTT: khu phố 6, phường Đạo Long, thành phố Phan Rang – Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận, chỗ ở: Thôn Phú Thạnh, xã H Th, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng; Quốc Tịch: Việt Nam; Dân Tộc: Kinh, Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 6/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông: Nguyễn Hoàng Triều, sinh năm 1977; Con bà: Nguyễn Thị Phường, sinh năm 1979; Vợ: Ngô Hồng Nhi; Con: có 01 người con; Anh chị em ruột: có 03 người, lớn nhất là bị cáo, nhỏ nhất sinh năm 2010; Tiền án, Tiền sự: Không; Nhân thân: Tại bản án số 14/2018/HSST ngày 19/03/2018 của Tòa án nhân dân thành phố Phan Rang – Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận xử phạt Nguyễn Hoàng Ph 04 tháng tù về tội Chứa chấp tài sản do người khác phạm tội mà có. Bị cáo chấp hành xong bản án ngày 10/6/2020.
Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 29/7/2022 đến nay, hiện đang bị tạm giam tại nhà tạm giữ Công an huyện Đ. Có mặt
2. Họ và tên: Nguyễn Đức T, giới tính: Nam; sinh ngày 27/10/1976 tại Quãng Ngãi; HKTT: Thôn An Ph, xã Đạ Đờn, huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng; chỗ ở: 75 Phạm Ngũ Lão, thị trấn Liên Nghĩa, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng; Quốc Tịch: Việt Nam; Dân Tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 6/12; Nghề nghiệp: Phụ hồ; Con ông: Nguyễn Đức Ngọc (đã mất), con bà: Hồ Thị Thanh, sinh năm 1943; Vợ: Đoàn Minh Châu (Đã ly hôn; Con: có 02 người con, lớn sinh năm 2005, nhỏ sinh năm 2008; Anh chị em ruột: có 07 anh em ruột lớn nhất sinh năm 1972, nhỏ nhất sinh năm 1986, bị cáo là con thứ ba trong gia đình; Tiền án, Tiền sự: Không; Bị cáo không bị bắt tạm giữ, tạm giam, hiện dang được tại ngoại. Có mặt
* Bị hại:
- Ông Nguyễn Bá Ch, sinh năm 1989; Trú tại: 27 Thống Nhất, thị trấn Liên Nghĩa, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng. Vắng mặt
- Ông Phan Văn Kh, sinh năm 1986
Trú tại: 66 Phan Đăng Lưu, thị trấn Liên Nghĩa, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng. Vắng mặt
- Ông Nguyễn Hữu Ph, sinh năm 1977; Trú tại: Thôn Phú Trung, xã Phú Hội, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng. Vắng mặt
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1976; Trú tại: Thôn Phú Thạnh, xã Phú Hội, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng. Vắng mặt
- Ông Lê Ph, sinh năm 1982; Trú tại: Tổ 32, thị trấn Liên Nghĩa, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng. Vắng mặt
- Ông Trần Văn T, sinh năm 1984; Trú tại: Tổ 31, thị trấn Liên Nghĩa, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng. Vắng mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại Phên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Từ mối quan hệ xã hội mà Nguyễn Hoàng Ph biết Nguyễn Đức T làm nghề xây dựng và đang có nhu cầu mua các đồ dùng liên quan đến xây dựng, quá trình tiếp xúc thì Ph biết được khi trộm được giàn giáo sẽ được T mua lại hết nên Nguyễn Hoàng Ph đã nảy sinh ý định trộm cắp các giàn giáo bằng sắt sử dụng trong xây dựng bán cho T kiếm lời. Trong thời gian từ tháng 6 đến tháng 7 năm 2022 Ph đã thực hiện 04 vụ trộm cắp tài sản là giàn giáo sử dụng trong xây dựng tại khu vực thị trấn Liên Nghĩa. Sau khi trộm được tài sản thì Ph đến bán cho Nguyễn Đức T vào rạng sáng hoặc chiều tối với giá từ 150.000 đồng đến 200.000 đồng/bộ giàn giáo. Cụ thể:
Vụ thứ nhất: vào khoảng từ giữa đến cuối tháng 6 năm 2022 (Ph không nhớ ngày chính xác) Ph điều khiển xe mô tô biển số 49S9 -7642 xuống khu vực Lô 90 để tìm kiếm tài sản để trộm. Khi đến một nhà dân ở đường Trần Quang Khải, Ph thấy có 02 bộ chân giàn giáo và 02 thanh chéo để trước thềm, Ph đã lấy số giàn giáo và thanh chéo bỏ lên xe rồi điều khiển xe đến nhà Nguyễn Đức T bán cho T. Theo kết luận định giá thì 02 bộ chân giàn giáo và 02 thanh chéo có giá trị 1.220.000 đồng.
Vụ thứ 2: vào khoảng đầu tháng 7 năm 2022 Ph điều khiển xe mô tô biển số 49S9 -7642 xuống khu vực Lô 90 để tìm kiếm tài sản để trộm. Khi đến khu vực nhà đang xây ở đường Nguyễn Thị Minh Khai, Ph thấy có 03 bộ chân giàn giáo và 02 thanh chéo, Ph đã lấy số giàn giáo và thanh chéo bỏ lên xe rồi điều khiển xe đến nhà Nguyễn Đức T bán cho T. Theo kết luận định giá thì 03 bộ chân giàn giáo và 02 thanh chéo có giá trị 1.770.000 đồng.
Vụ thứ 3: vào khoảng giữa tháng 7 năm 2022 Ph điều khiển xe mô tô biển số 49S9 -7642 xuống khu vực Lô 90 để tìm kiếm tài sản để trộm. Khi đến khu vực đối diện với quán Cà phê Phố ở đường Lê Đức Thọ, Ph thấy ở căn nhà tạm có 05 bộ chân giàn giáo và 03 thanh chéo, Ph đã lấy số giàn giáo và thanh chéo bỏ lên xe rồi điều khiển xe đến nhà Nguyễn Đức T bán cho T. Theo kết luận định giá thì 05 bộ chân giàn giáo và 03 thanh chéo có giá trị 2.930.000 đồng.
Vụ thứ 4: Vào khoảng 03 giờ ngày 27/7/2022 Nguyễn Hoàng Ph điều khiển xe mô tô biển số 49S9 – 7642 đến nhà Nguyễn Đức T, Ph vào nhà lấy chiếc xe lôi bên hông nhà T buộc vào xe rồi điều khiển xe đến số 27 Thống Nhất, TT.Liên Nghĩa, Đ, Lâm Đồng lấy 08 bộ giàn giáo kèm 01 vỉ sắt đang để trước hiên nhà bỏ lên xe chở về nhà T rồi cùng T bê hết số giàn giáo ra phía sau nhà T để bán cho T. Sau đó Ph tiếp tục điều khiển xe mô tô biển số 49S9 – 7642 không kéo theo xe lôi đến địa chỉ trên lấy 3,5 bộ giàn giáo, 11 thanh chéo và 01 vỉ sắt rồi về bán tiếp cho T. Theo kết luận định giá thì 11,5 bộ chân giàn giáo, 11 thanh chéo và 02 vỉ có giá trị 7.525.000 đồng.
Sau khi thu mua số giàn giáo, thanh chéo và vỉ sắt trộm cắp được của Nguyễn Hoàng Ph thì Nguyễn Đức T đã bán lại số giàn giáo, thanh chéo và vỉ sắt trên cho ông Lê Ph, SN 1982, HKTT: Tổ 32, TT.Liên Nghĩa, Đ, Lâm Đồng với giá 350.000 đồng/bộ.
Căn cứ bản kết luận định giá tài sản số 80/KL – HĐĐG ngày 29/7/2022 và số 105/KL – HĐĐG ngày 04/10/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong TTHS huyện Đ xác định: 43 chân giàn giáo cao 1,7m, 18 thanh chéo bằng kim loại và 02 vỉ sắt đã qua sử dụng có giá trị tại thời điểm trộm cắp là 13.445.000 đồng (mười ba triệu bốn trăm bốn mươi lăm ngàn đồng).
Vật chứng của vụ án: Quá trình điều tra, CQĐT đã thu giữ: 01 chiếc xe môtô biển số 49S9 - 7642 nhãn hiệu Wave; 01 xe lôi loại tự chế bằng sắt; 40 bộ chân giàn giáo đã qua sử dụng(mỗi bộ gồm 02 chân);13 vỉ sắt đã qua sử dụng; 25 thanh chéo; Thu trong người Nguyễn Hoàng Ph số tiền 300.000 đồng.
Đối với vật chứng là 39 chân giàn giáo, 16 thanh chéo và 02 vỉ sắt khi hoàn tất công tác định giá tài sản, đã xác định được chủ sỡ hữu CQĐT đã ra Quyết định xử lý vật chứng, trả lại cho chủ sở hữu theo quy định.
Đối với 37 chân giàn giáo, 11 vỉ sắt và 07 thanh chéo đã thu giữ không liên quan đến hành vi phạm tội nên Cơ quan CSĐT Công an huyện Đ đã ra Quyết định xử lý vật chứng, trả lại cho chủ sở hữu là Nguyễn Đức T.
Đối với 01 chiếc xe môtô biển số 49S9 - 7642 nhãn hiệu Wave, 01 xe lôi loại tự chế bằng sắt và số tiền 300.000 đồng thu trong người Nguyễn Hoàng Ph Cơ quan CSĐT Công an huyện Đ đã ra Quyết định xử lý vật chứng chuyển Chi cục thi hành án dân sự huyện Đ chờ xử lý.
Đối với 04 chân giàn giáo và 02 thanh chéo hiện chưa xác định được chủ sở hữu Cơ quan CSĐT Công an huyện Đ vẫn tiếp tục quản lý ở kho vật chứng khi xác định được chủ sở hữu sẽ xử lý sau.
Tình tiết giảm nhẹ: quá trình điều tra bị cáo Nguyễn Hoàng Ph và Nguyễn Đức T đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải.
Tình tiết tăng nặng: Áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự phạm tội 02 lần trở lên đối với Nguyễn Hoàng Ph và Nguyễn Đức T.
Về trách nhiệm dân sự: Sau khi được nhận lại tài sản bị hại là ông Nguyễn Hữu Ph, Phan Văn Kh và Nguyễn Bá Ch không yêu cầu bồi thường gì về dân sự.
Đối với số tiền 10.000.000 đồng mà Lê Ph bỏ ra để mua số tài sản trên, Nguyễn Đức T đã hoàn trả lại, ông Ph không có yêu cầu gì đối với vụ việc trên.
Cáo trạng số 20/CT-VKS ngày 31 tháng 01 năm 2023 Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ đã truy tố bị cáo Nguyễn Hoàng Ph về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 và truy tố bị cáo Nguyễn Đức T về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” theo khoản 1 Điều 323 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Tại Phên tòa hôm nay, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ thực hành quyền công tố tại Phên tòa giữ nguyên cáo trạng truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015 để xử phạt bị cáo Nguyễn Hoàng Ph từ 15 tháng tù đến 18 tháng tù. Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 323; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015 để xử phạt bị cáo Nguyễn Đức T từ 09 tháng tù đến 12 tháng tù.
Tại Phên tòa các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Ý kiến của bị hại: Những người bị hại vắng mặt tại Phên tòa, những lời khai của những người bị hại trong hồ sơ vụ án thể hiện không ai có yêu cầu bồi thường về mặt dân sự.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại Phên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Xét về hoạt động điều tra, truy tố của điều tra viên, kiểm sát viên thì thấy rằng trong quá trình điều tra, truy tố, điều tra viên, kiểm sát viên đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự, không ai có ý kiến thắc mắc hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của những người T hành tố tụng. Như vậy, các cơ quan T hành tố tụng, những người T hành tố tụng thực hiện đúng thẩm quyền, đúng trình tự thủ tục theo quy định của pháp luật.
Tại Phên tòa các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, cụ thể như sau: Do quen biết và qua tiếp xúc thì bị cáo Nguyễn Hoàng Ph biết được bị cáo Nguyễn Đức T sẽ mua tài sản trộm cắp nên từ tháng 6 đến tháng 7 năm 2022 bị cáo Nguyễn Hoàng Ph đã lợi dụng sự sơ hở trong việc trông coi và quản lý tài sản các chủ công trình xây dựng trên địa bàn thị trấn Liên Nghĩa đã lén lút 04 lần trộm cắp tổng cộng 43 chân giàn giáo, 18 thanh chéo và 02 vỉ sắt sử dụng trong xây dựng có giá trị là 13.445.000 đồng để bán cho bị cáo Nguyễn Đức T. Hành vi của bị cáo Nguyễn Đức T biết rõ tài sản mà Nguyễn Hoàng Ph mang đến bán là tài sản do Ph trộm cắp được nhưng vì ham lợi nên Nguyễn Đức T đã 04 lần thu mua số tài sản trên với giá trị tài sản là 13.445.000 đồng, sau khi mua số tài sản trên T đã bán cho Lê Ph để hưởng tiền chênh lệch.
Xét thấy lời khai của các bị cáo phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra, Cáo trạng Viện kiểm sát đã truy tố, lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Do đó, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận hành vi của bị cáo Nguyễn Hoàng Ph đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản” tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 và hành vi của bị cáo Nguyễn Đức T đã phạm vào tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 323 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Xét tính chất mức độ và hành vi phạm tội của các bị cáo Nguyễn Hoàng Ph, Nguyễn Đức T là nguy hiểm cho xã hội, các bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự. Các bị cáo biết rõ tài sản hợp pháp của người khác được pháp luật thừa nhận và bảo vệ, cấm mọi hành vi xâm phạm nhưng do lười lao động muốn có tiền tiêu xài nên bị cáo Ph đã lợi dụng sự sơ hở của người khác trong việc trong coi tài sản và thực hiện hành vi trộm cắp tài sản với tổng giá trị tài sản là 13.445.000 đồng. Còn bị cáo T biết tài sản do bị cáo Ph bán là do trộm cắp mà có nhưng vì ham lời, muốn hưởng tiền chênh lệch nên vẫn đồng ý mua lại. Hành vi phạm tội của các bị cáo làm ảnh hưởng đến trật tự, trị an, an toàn xã hội, gây hoang mang, lo lắng trong quần chúng nhân dân. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy cần phải có một mức án tương xứng với hành vi phạm tội của các bị cáo.
Xem xét nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo:
- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Nguyễn Hoàng Ph thực hiện 04 lần trộm cắp tài sản sau đó cả 04 lần đều mang đến bán cho bị cáo Nguyễn Đức T. Nên các bị cáo phải bị áp dụng tình tiêt tăng nặng trách nhiệm hình sự ”Phạm tội nhiều lần” quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự là phù hợp.
- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Sau khi phạm tội các bị cáo Nguyễn Hoàng Ph, Nguyễn Đức T thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên Hội đồng xét xử xét thấy cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự 2015 cho các bị cáo khi lượng hình. Bị cáo T đã tự nguyện bồi thường, hoàn trả lại cho ông Lê Ph số tiền 10.000.000đ nên cần áp dụng thêm điểm b khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự đối với bị cáo T khi quyết định hình phạt là phù hợp.
Từ những phân tích nhận định trên Hội đồng xét xử xét thấy cần cách ly các bị cáo Nguyễn Hoàng Ph, Nguyễn Đức T ra khỏi xã hội một thời gian để bị cáo nhận thức hành vi phạm tội của mình và mang tính răn đe, giáo dục phòng ngừa Ch, đồng thời thể hiện sự nghiêm minh của pháp luật.
Về trách nhiệm dân sự:
- Bị hại ông Nguyễn Hữu Ph, ông Phan Văn Kh và ông Nguyễn Bá Ch đã được nhận lại tài sản, không ai yêu cầu bồi thường gì về dân sự nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- Đối với số tiền 10.000.000 đồng mà Lê Ph bỏ ra để mua số tài sản trên, bị cáo Nguyễn Đức T đã hoàn trả lại cho ông Ph, ông Ph không có yêu cầu gì thêm nên không xem xét.
Về xử lý vật chứng:
- Đối với 01 chiếc xe môtô biển số 49S9 - 7642 nhãn hiệu Wave, 01 xe lôi loại tự chế bằng sắt và số tiền 300.000 đồng thu trong người Nguyễn Hoàng Ph. Xét thấy liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo Ph nên cần tịch thu sung ngân sách Nhà nước.
- Đối với 04 chân giàn giáo và 02 thanh chéo hiện chưa xác định được chủ sở hữu Cơ quan CSĐT Công an huyện Đ vẫn tiếp tục quản lý ở kho vật chứng khi xác định được chủ sở hữu sẽ xử lý sau.
Quá trình điều tra Nguyễn Hoàng Ph khai nhận vào ngày 21/7/2022 Ph đã trộm cắp 01 mô tơ ép nước mía của Nguyễn Văn T ở 117 QL20, TT.Liên Nghĩa, Đ, Lâm Đồng sau đó bán được 300.000 đồng. Qúa trình điều tra do ông T không cung cấp được hình ảnh cũng như thông tin về thông số kỹ thuật của mô tơ nên Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự huyện Đ không có căn cứ định giá nên không có căn cứ để xử lý. Đồng thời ông Nguyễn Văn T yêu cầu Nguyễn Hoàng Ph bồi thường với số tiền 300.000 đồng, gia đình Nguyễn Hoàng Ph đã bồi thường đủ, ông Nguyễn Văn T không có yêu cầu gì đối với vụ việc trên.
Đối với hành vi của Lê Ph là người đã mua số giàn giáo, thanh chéo và vỉ sắt từ Nguyễn Đức T ông Ph không biết được đây là tài sản do trộm cắp mà có nên không có căn cứ để xử lý.
Về án phí: Buộc các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hoàng Ph phạm tội “Trộm cắp tài sản” và bị cáo Nguyễn Đức T phạm tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”.
- Áp dụng khoản 1 Điều 173; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 đối với bị cáo Nguyễn Hoàng Ph.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Hoàng Ph 15 (mười lăm) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 29/7/2022.
- Áp dụng khoản 1 Điều 323; Điều 38; điểm b, s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 đối với bị cáo Nguyễn Đức T.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Đức T 09 (chín) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt giam chấp hành án.
2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 46; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
- Tịch thu sung ngân sách nhà nước 01 chiếc xe môtô biển số 49S9 - 7642 nhãn hiệu Wave, 01 xe lôi loại tự chế bằng sắt và số tiền 300.000 đồng thu trong người Nguyễn Hoàng Ph.
Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 26/10/2022 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Đ và Giấy nộp tiền ngày 27/10/2022.
3. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án. Buộc các bị cáo Nguyễn Hoàng Ph, Nguyễn Đức T mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
4. Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án các bị cáo có quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm. Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại Phên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc niêm yết bản án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm.
| Nơi nhận: - Tòa án tỉnh Lâm Đồng; - VKSND huyện Đ; - Công an huyện Đ; - THA huyện Đ; - Bị cáo; - Người tham gia tố tụng; - Bộ phận THA phạt tù; - Lưu. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa Phên tòa Trần Thanh Long |