- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bùi Tiến H phạm tội cố ý gây thương tích - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi…"
- Tòa quyết gì? Tuyên xử: Bị cáo Bùi Tiến H phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN C TỈNH G | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 23/2023/HS-ST Ngày 04 tháng 08 năm 2023 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN C, TỈNH G
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Võ Tiến Sỹ,
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Chu Xuân Toàn
Ông Siu Thun Phrâo
- Thư ký phiên tòa: Bà Đinh Thị Thùy, thư ký Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh G.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện C, tỉnh G tham gia phiên toà: Ông Đặng Văn Niên, Kiểm sát viên.
Ngày 04 tháng 08 năm 2023 tại Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh G xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 20/2023/TLST-HS ngày 27 tháng 6 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 20/2023/QĐXXST-HS ngày 19 tháng 7 năm 2023 đối với bị cáo:
Bùi Tiến H, sinh năm 1975 tại huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ.
Nơi cư trú: Thôn Dư Keo, xã IaHla, huyện C, tỉnh G.
Nghề nghiệp: Làm nông; Trình độ học vấn: 06/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Bùi Tiến Phúc và bà Trần Thị Mịch (đều đã chết); Bị cáo có vợ là Vũ Thị Tuất, sinh năm 1982 và 02 người con, lớn sinh năm 2003, nhỏ sinh năm 2013.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt tạm giam ngày 21/3/2023 cho đến nay. Có mặt.
- Người bào chữa cho bị cáo: Luật sư Trần Mạnh T - Cộng tác viên của Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh G. Có mặt.
- Bị hại: Anh Phạm Văn L, sinh năm 1980; Địa chỉ: Thôn C, xã I, huyện C, tỉnh G. Có mặt.
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Ông Nguyễn Bá H, sinh năm 1971; Địa chỉ: Thôn C, xã I, huyện C, tỉnh G. Có mặt.
Người làm chứng:
1. Ông Phạm Văn T, sinh năm 1968; địa chỉ: Thôn C, xã I, huyện C, tỉnh G. Có mặt.
2. Anh Nguyễn Xuân V, sinh năm 1979; địa chỉ: Thôn C, xã I, huyện C, tỉnh G. Có mặt.
3. Chị Vi Thị Ti, sinh năm 1974; địa chỉ: Thôn C, xã I, huyện C, tỉnh G. Có mặt.
4. Anh Nguyễn Văn T, sinh năm 1984; địa chỉ: Thôn C, xã I, huyện C, tỉnh G. Có mặt.
5. Anh Đào Xuân T, sinh năm 1980; địa chỉ: Thôn C, xã I, huyện C, tỉnh G. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào sáng ngày 17/01/2023 (tức ngày 26/12/2022 âm lịch), Bùi Tiến H đến nhà ông Nguyễn Bá H (sinh năm 1971), thuộc thôn C, xã I, huyện C, tỉnh G để phụ mổ dê cho nhà ông H làm tiệc tất niên cuối năm. Đến khoảng 11 giờ cùng ngày, H cùng anh Phạm Văn L và một số người khác, ngồi ăn tất niên, uống rượu ở phòng khách nhà ông H . Đến khoảng 13 giờ 30 phút cùng ngày, L mời rượu H, nhưng H từ chối không uống, dẫn đến hai bên nói qua lại, xảy ra mâu thuẫn. Sau đó, Hải đi ra phía sau nhà, gần bếp nhà ông H lấy 01 con dao (dài 40,5cm, lưỡi dao sắc, bằng kim loại dài 26cm, đầu mũi dao rộng 7,5cm, cán dao bằng gỗ dài 14,5cm, hai đầu cán dao bọc vòng kim loại, đã qua sử dụng) rồi đi lên lại phòng khách, mục đích để chém anh L. Lúc này, anh L đang ngồi dưới nền nhà, mặt hướng nhìn phía cửa chính ra vào phía trước, lưng quay về phía lối đi xuống nhà bếp, H dùng tay trái (là tay thuận của H) cầm con dao trên đi lại gần anh L rồi chém 01 nhát trúng vào khu vực vai trái của anh Liên; bị chém thì anh L liền đứng dậy (trong tư thế đối diện với H) thì H tiếp tục dùng con dao này chém về phía anh L, chém theo hướng từ trên xuống dưới, từ trái qua phải (theo hướng nhìn của H); L dơ tay phải lên đỡ, nên trúng vào vùng cẳng tay phải của L. Tiếp đó, L đi lùi lại, H tiến tới tiếp tục dùng tay trái cầm dao chém 02 nhát theo hướng từ trên xuống dưới, từ trái qua phải, L dơ tay phải lên đỡ thì lưỡi dao trúng vào lòng bàn tay phải của L. Sau đó, mọi người đến can ngăn, lấy con dao trên tay của Hải, còn anh Liên bỏ chạy ra ngoài. Hậu quả: Phạm Văn L bị thương ở tay phải, vai trái, phải đi điều trị tại Bệnh viện đa khoa tỉnh G; đến ngày 19/01/2023 thì ra viện.
Tại bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 100/23/TgT ngày 06/3/2023 và Công văn số 41 ngày 30/3/2023 của Trung tâm pháp y tỉnh G kết luận đối với thương tích của Phạm Văn L như sau:
“1. Dấu hiệu chính qua giám định:
+ 01 sẹo vết thương phần mềm nằm xiên mỏm cùng vai trái: 02%.
+ 01 sẹo vết thương phần mềm hình vòng cung mặt sau trong 1/3 dưới cẳng tay phải: 02%.
+ 01 sẹo vết thương phần mềm kẽ ngón 2-3 đến mặt lòng ô mô ngón I bàn tay phải: 02%.
+ 01 sẹo vết thương + sẹo mổ mặt lòng đầu gần xương bàn 2-3-4 bàn tay phải: 01%.
+ Chấn thương gây nứt xương bả vai trái: 02%.
+ Chấn thương gây gãy 1/3 dưới xương trụ phải, cal tốt, trục thẳng, chức năng cẳng tay không bị ảnh hưởng: 06%.
+ Chấn thương gây gãy chỏm xương bàn ngón II tay phải: 06%.
+ Vết thương gây đứt gân gấp ngón I bàn tay phải đã phẫu thuật khâu nối không hồi phục hậu quả cứng khớp liên đốt: 07%.
+ Vết thương gây đứt gân gấp ngón II bàn tay phải đã phẫu thuật khâu nối không hồi phục hậu quả cứng khớp đốt bàn: 08%.
+ Vết thương mặt lòng bàn tay phải gây tổn thương nhánh thần kinh giữa tay phải: 11%.
2. Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên tại thời điểm giám định là: 39% (Ba mươi chín phần trăm). Áp dụng phương pháp cộng theo Thông tư 22/2019/TT-BYT.
3. Kết luận khác:
- Cơ chế hình thành thương tích: Do sự tác động trực tiếp.
- Vật gây thương tích: Phù hợp với sự tác động của vật sắc có cạnh bén. Vì vậy, vật được Cơ quan CSĐT Công an huyện C trưng cầu là vật phù hợp có thể gây ra các thương tích nêu trên”.
Về vật chứng vụ án:
Đối với 01 con dao (dài 40,5cm, lưỡi dao sắc, bằng kim loại dài 26cm, đầu mũi dao rộng 7,5cm, cán dao bằng gỗ dài 14,5cm, hai đầu cán dao bọc vòng kim loại, đã qua sử dụng) mà Bùi Tiến H đã sử dụng để chém gây ra thương tích cho anh Phạm Văn L vào ngày 17/01/2023. Quá trình điều tra xác định, đây là tài sản của ông Nguyễn Bá H, ông H tự nguyện giao nộp cho Cơ quan điều tra và không yêu cầu nhận lại con dao trên. Do đó, yêu cầu Cơ quan CSĐT Công an huyện C chuyển vật chứng trên đến Chi cục Thi hành án dân sự huyện C để quản lý và xử lý theo vụ án.
Về trách nhiệm dân sự: Sau sự việc xảy ra, Bùi Tiến H và gia đình đã bồi thường cho anh Phạm Văn L số tiền 25.000.000 đồng theo yêu cầu của anh L. Anh L đã nhận đủ số tiền trên và không có yêu cầu bồi thường gì thêm, đồng thời đã viết đơn bãi nại xin giảm nhẹ hình phạt cho Bùi Tiến H.
Tại bản cáo trạng số: 24/CT-VKS ngày 26 tháng 6 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện C, tỉnh G đã truy tố bị cáo Bùi Tiến H về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm c khoản 3 Điều 134 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa hôm nay, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện C, tỉnh G vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo Bùi Tiến H và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 3 Điều 134; các điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Xử phạt: Bị cáo Bùi Tiến H từ 05 năm 06 tháng tù đến 06 năm tù, về tội “Cố ý gây thương tích”. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam, ngày 21/3/2023.
Về phần dân sự: Không đề cập giải quyết.
Về vật chứng: Đề nghị xử lý theo quy định của pháp luật.
Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Người bào chữa cho bị cáo: Thống nhất với tội danh và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng. Nhận thấy bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự; do đó, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 54 của Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo dưới mức thấp nhất mức hình phạt mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị. Về vấn đề bồi thường thiệt hại và các vấn đề khác có liên quan, người bào chữa cho bị cáo không có ý kiến gì.
Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội và có lời nói sau cùng, mong Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất. Bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, HĐXX nhận định như sau:
. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện C, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện C, Kiểm sát viên: Trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
. Về hành vi phạm tội của bị cáo:
Vào khoảng 13 giờ 30 phút ngày 17/01/2023, tại nhà anh Nguyễn Bá H thuộc thôn C, xã I, huyện C, tỉnh G; khi đang ăn tất niên vì lý do bị hại là anh Phạm Văn L mời rượu bị cáo Bùi Tiến H không uống nên hai người có nói qua, nói lại và xảy ra mâu thuẫn; anh L có hành vi chửi và thách thức bị cáo. Do bực tức, không kiềm chế được cảm xúc và hành vi, bị cáo đã sử dụng một con dao lấy từ nhà anh H, chém liên tiếp nhiều nhát vào tay, vai của anh L, làm anh L tổn thương cơ thể do thương tích là 39%. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, những người làm chứng, phù hợp với kết luận giám định pháp y về thương tích và biên bản khám nghiệm hiện trường.
Do vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận bị cáo Bùi Tiến H phạm tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm c khoản 3 Điều 134 Bộ luật hình sự như Viện kiểm sát nhân dân huyện C, tỉnh G đã truy tố là có căn cứ, đúng người, đúng tội.
. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, có thái độ ăn năn hối cải. Bị cáo đã bồi thường thiệt hại khắc phục hậu quả cho bị hại, được bị hại xin giảm nhẹ hình phạt, gia đình bị cáo thuộc diện hộ nghèo. Đây là các tình tiết được quy định tại điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, được Hội đồng xét xử áp dụng để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Chỉ vì mâu thuẩn nhỏ nhặt mà bị cáo đã chọn phương án bạo lực để giải quyết mâu thuẫn. Hành vi và hậu quả của bị cáo gây ra là nguy hiểm cho xã hội. Do đó Hội đồng xét xử cần phải xử lý nghiêm khắc và cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định mới đảm bảo tính giáo dục, răng đe và phòng ngừa chung cho xã hội.
Về dân sự: Các bên đã thỏa thuận, không có yêu cầu gì khác nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về vật chứng: Đối với 01 con dao (dài 40,5cm, lưỡi dao sắc, bằng kim loại dài 26cm, đầu mũi dao rộng 7,5cm, cán dao bằng gỗ dài 14,5cm, hai đầu cán dao bọc vòng kim loại, đã qua sử dụng) là công cụ phương tiện phạm tội, không còn giá trị nên bị tịch thu tiêu hủy.
Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên xử: Bị cáo Bùi Tiến H phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
1. Áp dụng điểm c khoản 3 Điều 134; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Bùi Tiến H 05 (Năm) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giam, ngày 21/3/2023.
2. Về vật chứng: Căn cứ Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
Tịch thu tiêu hủy 01 con dao (dài 40,5cm, lưỡi dao sắc, bằng kim loại dài 26cm, đầu mũi dao rộng 7,5cm, cán dao bằng gỗ dài 14,5cm, hai đầu cán dao bọc vòng kim loại, đã qua sử dụng).
(Đặc điểm nhận dạng vật chứng như biên bản giao nhận vật chứng lập ngày 30/6/2023 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện C và Chi cục Thi hành án dân sự huyện C, tỉnh G).
3. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí toà án.
Buộc bị cáo Bùi Tiến H chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm để sung vào công quỹ Nhà nước.
4. Về quyền kháng cáo đối với bản án: Trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 04/08/2023) bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án lên Tòa án nhân dân tỉnh G để yêu cầu xét xử phúc thẩm; đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chỉ được kháng cáo về những vấn đề trực tiếp liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình./.
| Nơi nhận: - Bị cáo; Người bào chữa; - Nguời CQL&NVLQ; - TAND tỉnh G; - VKS huyện C; - Công an huyện C; - Chi Cục THA DS huyện C; - UBND xã IaHla; - Sở tư pháp tỉnh G; - Lưu HS. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm Phán – Chủ tọa phiên tòa Võ Tiến Sỹ |