vanban.org

Bản án 23/2023/HS-PT — Hình sự

TAND tỉnh Thái Nguyên Tuyên án 09/03/2023 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 09/03/2023 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về án phí: Căn cứ vào Điều 136 BLTTHS; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội: Buộc bị cáo Bùi Vĩnh H phải chịu 500.

Các quyết định khác của bản án hình sự sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bùi Vĩnh H phạm tội cố ý gây thương tích - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật…"
  • Tòa quyết gì? Về án phí: Căn cứ vào Điều 136 BLTTHS; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội: Buộc bị cáo Bùi Vĩnh H phải chịu 500.
  • Căn cứ chính? Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 17 Bộ luật Hình sự; Điều 345 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH THÁI NGUYÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 23/2023/HS-PT
Ngày: 09 - 3 - 2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI NGUYÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Trần Thị Nhài.

- Các thẩm phán: 1. Ông Đặng Minh Tuân

2. Ông Nguyễn Mạnh Toàn

- Thư ký phiên tòa: Ông Phan Khánh Tùng - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên tham gia phiên tòa: Bà Dương Thị Thu Hiền, chức vụ: Kiểm sát viên.

Ngày 09 tháng 3 năm 2023, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên, xét xử phúc thẩm vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 22/2023/TLPT- HS ngày 16/02/2023 do có kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên đối với bản án hình sự sơ thẩm số 07/2023/HSST ngày 10/01/2023 của Tòa án nhân dân huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên.

* Bị cáo bị kháng nghị :

Bùi Vĩnh H, tên gọi khác: không; sinh năm 2001.

Nơi ĐKHKTT: Xóm ĐC, xã TC, thành phố TN, tỉnh Thái Nguyên; nơi ở: Xóm NĐ, xã TC, thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên; nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Bùi Vĩnh C và bà Đào Hải V; vợ, con: Chưa; tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo tại ngoại tại địa phương (không bị bắt, tạm giữ, tạm giam). (Có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 09 giờ 45 phút ngày 27/5/2022, Bùi Vĩnh H điều khiển xe ô tô tải BKS 20C-129.75 chở bà Đào Hải V (mẹ đẻ H) đi từ xã TC, thành phố Thái Nguyên đến xã NM, huyện Đại Từ để thu mua chè. Khi đi đến khu vực cầu Huy Ngạc, thuộc thị trấn HS, huyện Đại Từ, H nhìn thấy chiếc xe ô tô nhãn hiệu KIA Morning, BKS 17D- 00081 của ông Đỗ Văn T, sinh năm 1972, trú tại xóm ĐC, xã TC, thành phố Thái Nguyên đi hướng ngược chiều. Do có mâu thuẫn với ông T từ trước và nghe nói ông T nói xấu gia đình H sắp phá sản nên H đã điều khiển xe ô tô quay lại đuổi theo ông T vào đường tỉnh lộ 270 theo chiều Đại Từ - Thái Nguyên để gặp ông T nói chuyện. Khi đi đến khu vực tổ dân phố An Long, thị trấn Hùng Sơn, huyện Đại Từ thì H điều khiển xe ô tô vượt lên xe ô tô của ông T, H dừng xe trước đầu ô tô của ông T, thấy vậy ông T dừng xe lại. H nói với bà V gặp ông T nói chuyện. H và bà V xuống xe đi đến gõ cửa xe ô tô gọi ông T xuống xe để nói chuyện nhưng ông T không xuống xe. Quá trình nói chuyện giữa bà V và ông T xảy ra tranh cãi. Do thấy ông T chửi mẹ mình, H bực tức nên đã quay lại xe ô tô lấy 01 chiếc gậy bằng kim loại (Loại gậy rút 03 đoạn) dài khoảng 60cm đi đến vị trí xe ô tô của ông T đang dừng, đỗ. H dùng gậy đập vỡ kính cửa phía trước bên trái (phía ghế lái) xe ô tô của ông T để dọa ông T xuống xe nói chuyện. Thấy vậy, ông T mở cửa xe ô tô xuống xe bỏ chạy, thì bà V túm được tay là cổ áo ông T; bà V nói ông T đứng lại để hỏi lý do tại sao ông T lại đi nói nhà bà phá sản, bà V đi cặp bồ? lúc này ông T giằng được tay bà V ra rồi nhặt đá ném về phía bà V nhưng không trúng. Thấy mẹ mình bị ông T ném đá, H lao vào kéo ông T ra rìa đường bên phải theo chiều Đại Từ - Thái Nguyên, rồi tay phải cầm gậy kim loại vụt 4 -5 phát trúng vào đùi, tay và 01 nhát trúng vào đầu của ông T. Thấy ông T bị H đánh, bà V chạy vào can ngăn bảo H dừng lại không đánh ông T nữa, ông T bị ngã lăn xuống mương nước rồi bỏ chạy. Sau đó H và bà V tiếp tục lên xe ô tô đi đến xã Na Mao để thu mua chè. Trên đường đi H và bà V tháo rời chiếc gậy kim loại và ném ra khu vực cánh đồng lúa cạnh đường đi thuộc địa phận xóm Phú Hạ, xã BN, huyện Đại Từ.

Ngay sau khi sự việc xảy ra ông T đến Công an thị trấn Hùng Sơn, huyện Đại Từ trình báo và được đưa đến Trạm y tế thị trấn Hùng Sơn để sơ cứu, khâu vết thương, cùng ngày ông T đến Bệnh viện đa khoa huyện Đại Từ điều trị, đến ngày 02/6/2022 ra viện. Kết quả xác minh thương tích tại Bệnh viện đa khoa huyện Đại Từ xác định: Ông T bị 01 vết thương vùng đỉnh đầu dài 02cm, vùng ngực trái có vết xước trượt nề đỏ, vùng ngực lưng có nhiều vết nề đỏ không xây sát da; tim phổi bình thường. Kết quả chụp cắt lớp vi tính không thấy hình ảnh tổn thương sọ não.

Tại bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 388/TgT ngày 16.6.2022 của Trung tâm pháp y Sở y tế tỉnh Thái nguyên kết luận: Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại của ông Đỗ Văn T là 02%. Cơ chế hình thành viết thương do tác động của vật tày.

Tại bản kết luận định giá tài sản số 24/Kl-HĐĐGTS ngày 27/6/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Đại Từ kết luận: Giá trị hư hỏng của xe ô tô nhãn hiệu KIA Morning Van, màu trắng BKS 17D – 00081 là 1.900.000 đồng.

Ngày 01/7/2022 ông T có đơn đề nghị khởi tố vụ án theo quy định của pháp luật đối với H về hành vi Cố ý gây thương tích.

Tại bản án hình sự sơ thẩm số 07/2023/HSST ngày 10/01/2023 Tòa án nhân dân huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm, quyết định: Tuyên bố: Bị cáo Bùi Vĩnh H phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 134; điểm b, i, s khoản 1 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự. Xử phạt: Bị cáo Bùi Vĩnh H 09 tháng tù cho hưởng án treo, 18 tháng thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Về trách nhiệm dân sự: Công nhận sự thỏa thuận tại phiên tòa: Bị cáo Bùi Vĩnh H có trách nhiệm bồi thường về sức khỏe (thương tích) cho ông T số tiền là 30.000.000 đồng. Ông T được nhận số tiền 30.000.000 đồng do bị cáo đã nộp bồi thường tại cơ quan Thi hành án dân sự huyện Đại Từ theo biên lại thu số 0000770 ngày 09/01/2023.

Bị cáo Bùi Vĩnh H có trách nhiệm bồi thường thiệt hại về tài sản cho ông Đỗ Văn T và bà Lưu Thị H1 số tiền là 10.000.000 đồng.

Về án phí: Buộc bị cáo Bùi Vĩnh H phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 2.000.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm sung quỹ Nhà nước.

Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về xử lý vật chứng và quyền kháng cáo theo quy định.

Sau khi xét xử sơ thẩm, tại quyết định số 01/QĐ-VKS ngày 19/01/2023 Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Đại Từ kháng nghị một phần bản án hình sự sơ thẩm số 07/2023/HSST ngày 10/01/2023 của Tòa án nhân dân huyện Đại Từ. Đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên xét xử phúc thẩm vụ án theo hướng sửa một phần bản án hình sự sơ thẩm nói trên, buộc bị cáo Bùi Vĩnh H phải chịu tiền án phí dân sự đối với khoản tiền 10.000.000 đồng thỏa thuận tại phiên tòa, không phải chịu án phí dân sự đối với số tiền 30.000.000đồng.

Tại phiên tòa phúc thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên giữ nguyên nội dung kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát huyện Đại Từ.

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo H đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.

Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát: Bản án hình sự sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện Đại Từ có vi phạm trong việc quyết định về án phí dân sự sơ thẩm như sau: Trước khi mở phiên tòa bị cáo H đã nộp 30.000.000đồng là tiền bị cáo tự nguyện khắc phục hậu quả cho bị hại là ông Đỗ Văn T tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đại Từ. Tại phiên tòa bị hại đồng ý với số tiền bồi thường về thương tích 30.000.000 đồng mà bị cáo đã nộp tại cơ quan thi hành án. Đối với thiệt hại về tài sản, tại phiên tòa bị cáo và bị hại đã thỏa thuận, bị cáo đồng ý bồi thường 10.000.000đồng cho bị hại nên Hội đồng xét xử đã công nhận sự thỏa thuận của các bên. Như vậy, tổng số tiền bị cáo phải bồi thường cho bị hại là 40.000.000 đồng (trong đó đã tự nguyện nộp tại Chi cục Thi hành án huyện Đại Từ 30.000.000 đồng trước khi mở phiên tòa; 10.000.000đồng thỏa thuận bồi thường về tài sản tại phiên tòa). Theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, quy định: “Trường hợp bị cáo tự nguyện nộp tiền bồi thường thiệt hại trước khi mở phiên tòa thì không phải nộp tiền án phí dân sự sơ thẩm đối với số tiền đã tự nguyện nộp”. Do đó, bị cáo chỉ phải chịu án phí dân sự đối với số tiền 10.000.000 đồng thiệt hại về tài sản cho bị hại. Tuy nhiên, bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện Đại Từ đã quyết định buộc bị cáo phải chịu 2.000.000đồng án phí dân sự sơ thẩm sung quỹ nhà nước (tương ứng với số tiền 40.000.000 đồng) là không đúng quy định, gây ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của bị cáo.

Từ đó, đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, khoản 2 Điều 357; Điều 345 Bộ luật tố tụng hình sự, chấp nhận kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Đại Từ. Sửa bản án hình sự sơ thẩm số 07/2023/HSST ngày 10/01/2023 của Tòa án nhân dân huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên về phần án phí dân sự: Buộc bị cáo phải chịu tiền án phí dân sự là 500.000 đồng.

Bị cáo không tranh luận gì với quan điểm của đại diện Viện kiểm sát, lời nói sau cùng bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét lại phần án phí dân sự cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên làm trong hạn luật định và đúng theo thủ tục tố tụng quy định nên được xem xét giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.

. Về nội dung: Căn cứ các tài liệu đã thu thập trong hồ sơ vụ án, căn cứ lời khai của bị cáo khai trong quá trình điều tra c ng như phiên tòa sơ thẩm, phúc thẩm, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở xác định: Khoảng 10 giờ 00 phút, ngày 27/5/2022, tại đường tỉnh lộ 270 đoạn thuộc tổ dân phố AL, thị trấn HS, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên, Bùi Vĩnh H đã có hành vi dùng 01 chiếc gậy kim loại (loại gậy rút 03 đoạn) là hung khí nguy hiểm vụt 4 đến 5 phát trúng vào đùi, tay và đầu của ông Đỗ Văn T, hậu quả ông T bị thương, tỷ lệ tổn thương cơ thể là 02%.

Với hành vi trên, Tòa án nhân dân huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên đã xét xử bị cáo Bùi Vĩnh H phạm tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm a khoản 1 Điều 134 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.

. Xét kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên, Hội đồng xét xử xét thấy: Quá trình điều tra, bị hại yêu cầu bị cáo H bồi thường thiệt hại về tổn thương cơ thể là 30.000.000 đồng, thiệt hại về tài sản là 10.000.000đồng, bị cáo nhất trí bồi thường về tổn thương cơ thể theo yêu cầu của bị hại, không nhất trí bồi thường thiệt hại về tài sản (BL 156). Ngày 09/01/2023, trước khi mở phiên tòa bị cáo H đã tự nguyện nộp 30.000.000đồng là tiền bị cáo tự nguyện khắc phục hậu quả cho bị hại là ông Đỗ Văn T tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đại Từ. Tại phiên tòa giữa bị hại và bị cáo đã thỏa thuận, thống nhất bị cáo nhất trí bồi thường cho bị hại tổng số tiền 40.000.000 đồng (trong đó 30.000.000 đồng tiền bồi thường tổn thương cơ thể, 10.000.000 đồng tiền bồi thường thiệt hại về tài sản), bị hại đồng ý nhận số tiền bồi thường về thương tích 30.000.000 đồng mà bị cáo đã nộp tại Chi cục Thi hành án, nên Hội đồng xét xử đã công nhận sự thỏa thuận của các bên. Như vậy, tổng số tiền bị cáo phải bồi thường cho bị hại là 40.000.000 đồng (trong đó đã tự nguyện nộp tại Chi cục Thi hành án huyện Đại Từ 30.000.000 đồng trước khi mở phiên tòa; 10.000.000đồng thỏa thuận bồi thường thiệt hại về tài sản tại phiên tòa). Theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án thì bị cáo chỉ phải chịu án phí dân sự đối với số tiền 10.000.000đồng thiệt hại về tài sản cho bị hại. Tuy nhiên, bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện Đại Từ đã quyết định buộc bị cáo phải chịu 2.000.000đồng án phí dân sự sơ thẩm sung quỹ nhà nước (tương ứng với số tiền 40.000.000 đồng) là không đúng, gây ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của bị cáo. Do đó, có căn cứ chấp nhận kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Đại Từ, sửa bản án hình sự sơ thẩm số 07/2023/HSST ngày 10/01/2023 của Tòa án nhân dân huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên về phần án phí dân sự sơ thẩm, buộc bị cáo phải chịu tiền án phí dân sự là 5% đối với số tiền 10.000.000 đồng.

Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên tại phiên tòa là có căn cứ, Hội đồng xét xử chấp nhận.

. Về án phí: Bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

. Các quyết định khác của bản án hình sự sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị, Hội đồng xét xử không xem xét.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 355, khoản 2 Điều 357; Điều 345 Bộ luật Tố tụng hình sự, chấp nhận kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên. Sửa bản án hình sự sơ thẩm số 07/2023/HS-ST ngày 10/01/2023 của Tòa án nhân dân huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên về phần án phí dân sự sơ thẩm.

1. Về án phí: Căn cứ vào Điều 136 BLTTHS; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội: Buộc bị cáo Bùi Vĩnh H phải chịu 500.000 đồng (năm trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm sung quỹ Nhà nước; bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

2. Các quyết định khác của bản án hình sự sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ