vanban.org

Bản án 23/2023/HS-PT — Hình sự

TAND tỉnh Hà Nam Tuyên án 20/06/2023 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 20/06/2023 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Ghi nhận ý kiến của anh Nguyễn Văn TH, bị cáo Chu Văn D không phải hoàn trả cho anh Nguyễn Văn TH số tiền 3.

Không truy thu nộp ngân sách nhà nước đối với bị cáo Chu Văn D số tiền 3.400.000 đồng (Ba triệu bốn trăm ngàn đồng) do bán xe mô tô biển kiểm soát 90F9 - 5219 cho anh TH mà có. Án phí hình sự phúc thẩm bị cáo Chu Văn D không phải chịu. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bản án Chu Văn D phạm tội Trộm cắp - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Ghi nhận ý kiến của anh Nguyễn Văn TH, bị cáo Chu Văn D không phải hoàn trả cho anh Nguyễn Văn TH số tiền 3.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 194 Bộ luật Dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH HÀ NAM

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 23/2023/HS-PT
Ngày 20 tháng 6 năm 2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ NAM

Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Hải.

Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Mạnh Hùng và bà Nguyễn Thị Mai Hương.

Thư ký phiên tòa: Ông Vũ Văn Thanh - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Hà Nam.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Nam tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Nga - Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 6 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hà Nam xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 39/2023/TLPT-HS ngày 29 tháng 05 năm 2023 đối với bị cáo Chu Văn D, do có kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Nam đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 26/2023/HS-ST, ngày 20 tháng 04 năm 2023 của Tòa án nhân dân thị xã Duy Tiên, tỉnh Hà Nam.

- Bị cáo không kháng cáo nhưng bị kháng nghị:

Chu Văn D, sinh năm 2002; nơi cư trú: Thôn ĐX, xã VX, huyện KB, tỉnh Hà Nam; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Chu Văn V và bà Chu Thị H; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không; bị tạm giữ từ ngày 25/12/2022 đến ngày 03/01/2023 được thay đổi biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”; có mặt.

- Bị hại không kháng cáo; không bị kháng cáo, kháng nghị: Chị Phạm Thị Ánh Ng, sinh năm 1983; địa chỉ: Thôn 7, xã CL, huyện LN, tỉnh Hà Nam; có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không kháng cáo; không bị kháng cáo, kháng nghị:

+ Anh Nguyễn Văn TH, sinh năm 1990; địa chỉ: Thôn LTH, xã ĐX, huyện QV, tỉnh Bắc Ninh; vắng mặt.

+ Anh Nguyễn Mạnh H, sinh năm 1973; địa chỉ: Tổ 7, phường LN, quận HM, thành phố Hà Nội; vắng mặt.

+ Chị Trần Thị Huyền Tr, sinh năm 1986; địa chỉ: Tổ dân phố NHT, phường ĐV, thị xã DT, tỉnh Hà Nam; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 08 giờ ngày 23/12/2022, Chu Văn D một mình đến quán Internet 134 tại tổ dân phố NHT, phường ĐV, thị xã DT chơi game. Khoảng 13 giờ 00 phút cùng ngày, D không chơi game nữa nên gọi điện cho bạn đến đón. Sau đó, thấy ở đầu ngõ cách quán Internet 134 khoảng 30 mét, có chiếc xe mô tô Honda Future màu đỏ đen BKS: 90F9 - 5219 của chị Phạm Thị Ánh Ng đang dựng trước cửa hàng sữa, có cắm sẵn chìa khóa điện tại xe nên D nảy sinh ý định trộm cắp chiếc xe này để bán lấy tiền tiêu xài. Quan sát xung quanh không có ai nên D đi đến gần xe mô tô, ngồi lên xe nổ máy rồi điều khiển xe mô tô về nhà cất giấu. Sau đó, D dùng điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A7 vỏ màu xám bạc đăng nhập vào tài khoản Facebook mang tên “Chu Vượng” của mình rồi đăng bán xe mô tô 90F9 - 5219 vừa trộm cắp được. Đến khoảng 22 giờ 45 phút ngày 23/12/2022, anh Nguyễn Văn TH dùng tài khoản Facebook “The Nguyen” nhắn tin cho D hỏi mua xe mô tô 90F9 - 5219. D gửi ảnh xe mô tô 90F9 - 5219 cho anh TH xem thì anh TH đồng ý mua xe với giá 3.400.000đ và việc giao nhận xe sẽ diễn ra ở gần cầu Thanh Trì thuộc địa phận phường LN, quận HM, thành phố Hà Nội.

Khoảng 08 giờ ngày 24/12/2022, D một mình điều khiển xe mô tô 90F9 - 5219 đi đến gần cầu Thanh Trì rồi dùng điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A7 gọi điện thông báo cho anh TH. Anh TH liền gọi điện cho anh Nguyễn Mạnh H nhờ anh H gặp D để xem xe và nhận hộ xe cho mình. Sau đó, D giao xe mô tô 90F9 - 5219 cho anh H, anh H nhận xe rồi gọi điện thông báo cho anh TH biết, thấy vậy anh TH chuyển số tiền 3.400.000đ từ số tài khoản 15071990838689 ngân hàng MBBank của anh TH đến số tài khoản 3134802002 ngân hàng Techcombank của D, D nhận được tiền rồi bắt xe khách đi về còn anh H gửi xe mô tô 90F9 - 5219 về Bắc Ninh cho anh TH. D đã tiêu xài cá nhân hết số tiền 3.400.000đ.

Vật chứng thu giữ: 01 xe mô tô BKS 90F9-5219 (do anh Nguyễn Văn TH đã tự nguyện giao nộp); thu giữ 01 di động OPPO A7 của Chu Văn D. Khám xét nơi ở của Chu Văn D không thu giữ gì. Cơ quan điều tra đã trả lại cho chị Phạm Thị Ánh Ng 01 xe mô tô BKS: 90F9-5219.

Kết luận định giá tài sản số 70/KL-HĐ, ngày 30/12/2022 của Hội đồng định giá tài sản thị xã Duy Tiên: 01 xe Honda Future màu đỏ BKS: 90F9 - 5219 trị giá 6.500.000đ.

Về trách nhiệm dân sự: Chị Ng đã nhận lại xe mô tô 90F9 - 5219 nên không có yêu cầu, đề nghị gì; anh Nguyễn Văn TH không yêu cầu Chu Văn D phải bồi thường số tiền 3.400.000đ cho mình.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 26/2023/HSST ngày 20/04/2023 Tòa án nhân dân thị xã Duy Tiên đã quyết định:

1. Về hình sự: Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 65 Bộ luật hình sự.

Tuyên bố bị cáo Chu Văn D phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt Chu Văn D 09 (Chín) tháng tù, cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 18 (Mười tám) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (20/4/2023).

Giao bị cáo Chu Văn D cho Ủy ban nhân dân xã VX, huyện KB, tỉnh Hà Nam giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới.

2. Về vật chứng: Áp dụng điều 47 Bộ luật hình sự và điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu sung ngân sách Nhà nước: 01 di động OPPO A7.

3. Truy thu tiền chiếm hưởng trái phép đối với bị cáo Chu Văn D số tiền 3.400.000đ (Ba triệu bốn trăm ngàn đồng).

Ngoài ra án sơ thẩm còn tuyên về án phí, quyền kháng cáo cho bị cáo.

Tại Quyết định kháng nghị số 1269/QĐ-VKS-P7 ngày 19/5/2023 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Nam quyết định: Kháng nghị phần xử lý vật chứng của Bản án hình sự sơ thẩm số 26/2023/HSST ngày 20/04/2023 của Tòa án nhân dân thị xã Duy Tiên. Đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Hà Nam xét xử phúc thẩm vụ án theo hướng sửa bản án hình sự sơ thẩm, không tuyên truy thu của bị cáo Chu Văn D số tiền 3.400.000 đồng.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Nam giữ nguyên kháng nghị. Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, điểm a khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự, sửa bản án sơ thẩm, không truy thu của bị cáo Chu Văn D số tiền 3.400.000 đồng.

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Chu Văn D nhất trí với quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Nam.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Kháng nghị số 1269/QĐ-VKS-P7 ngày 19/5/202 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Nam là trong thời hạn theo quy định tại khoản 1 Điều 337 Bộ luật tố tụng hình sự nên được cấp Hội đồng xét xử xem xét, giải quyết theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo Chu Văn D khai nhận hành vi phạm tội của mình được nêu trong bản án sơ thẩm là đúng. Như vậy, Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử và tuyên bố bị cáo Chu Văn D phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người đúng tội. Do không có kháng cáo, kháng nghị về tội danh và hình phạt nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.

Xét kháng nghị của Viện trưởng Viện Kiểm sát tỉnh Hà Nam, Hội đồng xét xử nhận thấy: Tại Cơ quan điều tra, anh Nguyễn Văn TH không yêu cầu bị cáo Chu Văn D trả lại số tiền 3.400.000 đồng mà anh TH đã bỏ ra để mua mô tô biển kiểm soát 90F9 - 5219 từ bị cáo Chu Văn D. Theo quy định tại Điều 194 Bộ luật Dân sự thì anh Nguyễn Văn TH có quyền định đoạt tài sản của mình, trong đó có quyền từ bỏ quyền sở hữu. Việc Tòa án cấp sơ thẩm quyết định truy thu đối với bị cáo Chu Văn D số tiền 3.400.000 đồng do bán xe mô tô biển kiểm soát 90F9 - 5219 cho anh Nguyễn Văn TH mà có là trái với ý chí của anh TH và không đúng với quy định của Điều 194 Bộ luật Dân sự. Do đó, cấp phúc thẩm cần phải sửa bản án sơ thẩm về phần biện pháp tư pháp, ghi nhận ý kiến của anh Nguyễn Văn TH, không truy thu đối với bị cáo Chu Văn D số tiền 3.400.000 đồng do bán xe mô tô biển kiểm soát 90F9 - 5219 cho anh TH mà có.

Quyết định kháng nghị số 1269/QĐ-VKS-P7 ngày 19/5/2023 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Nam là có căn cứ, được Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận.

Án phí hình sự phúc thẩm bị cáo Chu Văn D không phải chịu.

Các quyết định khác của bản án hình sự sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị, cấp phúc thẩm không xem xét.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm a khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự. Chấp nhận Quyết định kháng nghị số 1269/QĐ-VKS-P7 ngày 19/5/2023 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Nam; sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 26/2023/HSST ngày 20/04/2023 của Tòa án nhân dân thị xã Duy Tiên, tỉnh Hà Nam về phần biện pháp tư pháp.

Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 194 Bộ luật dân sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

1. Ghi nhận ý kiến của anh Nguyễn Văn TH, bị cáo Chu Văn D không phải hoàn trả cho anh Nguyễn Văn TH số tiền 3.400.000 đồng (Ba triệu bốn trăm ngàn đồng).

2. Không truy thu nộp ngân sách nhà nước đối với bị cáo Chu Văn D số tiền 3.400.000 đồng (Ba triệu bốn trăm ngàn đồng) do bán xe mô tô biển kiểm soát 90F9 - 5219 cho anh TH mà có.

3.Án phí hình sự phúc thẩm bị cáo Chu Văn D không phải chịu.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ