vanban.org

Bản án 23/2023/HS-PT — Hình sự

TAND tỉnh Cà Mau Tuyên án 28/03/2023 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 28/03/2023 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau, hủy Bản án hình sự sơ thẩm số 02/2023/HS-ST ngày 13 tháng 01 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Cái Nước.

Giao hồ sơ về cho Viện kiểm sát nhân dân huyện Cái Nước để điều tra, giải quyết lại theo thủ tục chung. Bị cáo Nguyễn Văn Th không phải chịu án phí hình sự sơ thẩm. Bị cáo Nguyễn Hoàng Gi không phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí hình sự phúc thẩm. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt, VKS kháng nghị đề nghị hủy án sơ thẩm - phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (điều 174 Luật sửa đổi,…"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau, hủy Bản án hình sự sơ thẩm số 02/2023/HS-ST ngày 13 tháng 01 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Cái Nước.
  • Căn cứ chính? Điều 358 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 23/2023/HS-PT
Ngày: 28-3-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Trọng Quế

Các Thẩm phán:

Ông Trịnh Xuân Miễn

Ông Huỳnh Văn Út

- Thư ký phiên toà: Bà Dương Kim Yến, là Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Cà Mau.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau tham gia phiên tòa: Bà Phạm Trúc Mai - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 3 năm 2022, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Cà Mau xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 19/2023/TLPT-HS ngày 17 tháng 02 năm 2023 đối với các bị cáo Nguyễn Hoàng Gi và Nguyễn Văn Th do có kháng cáo của bị cáo Gi và kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau đối với Bản án hình sự sơ thẩm 02/2023/HS-ST ngày 13 tháng 01 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Cái Nước, tỉnh Cà Mau.

- Các bị cáo có kháng cáo và bị kháng nghị:

1. Nguyễn Hoàng Gi, sinh ngày 01/01/1970 tại huyện Cái Nước; nơi cư trú: Ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Cà Mau; nghề nghiệp: Làm vuông; trình độ học vấn: 05/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn V và bà Võ Thị Ng; vợ tên Nguyễn Tú Nh và có 03 con; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo tại ngoại có mặt.

2. Nguyễn Văn Th, sinh ngày 11/01/1991 tại huyện Cái Nước; nơi cư trú: Ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Cà Mau; nghề nghiệp: Làm vuông; trình độ học vấn: 08/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn T và bà Nguyễn Thị C; vợ tên Nguyễn Thị T1 và có 01 con; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo tại ngoại có mặt.

- Bị hại: Ông Đỗ Văn Đ, sinh năm 1986 (có mặt)

Nơi cư trú: Ấp V, xã H, huyện C, tỉnh Cà Mau

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Ông Trần Xuân Tr, sinh năm 1970 (vắng mặt)

Nơi cư trú: Ấp Ph, xã T, huyện C, tỉnh Cà Mau

2. Ông Võ Văn B, sinh năm 1995 (có mặt)

Nơi cư trú: Ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Cà Mau

3. Công ty Tài chính TNHH Ngân hàng V

Địa chỉ: Tầng 2, Tòa nhà R, số 9 đường Đoàn Văn Bơ, phường 13, Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh

Người đại diện theo ủy quyền của công ty: Ông Huỳnh Phước H (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do quen biết trước với ông Võ Văn B, Nguyễn Văn Th biết ông B có cầm đứt 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, loại xe Exciter, biển số 69B1-029.68 tại tiệm cầm đồ của ông Trần Xuân Tr thuộc ấp Ph, xã T, huyện C, tỉnh Cà Mau nên Th rủ Nguyễn Hoàng Gi (cậu ruột) đến mua chiếc xe này với giá 9.000.000 đồng để làm giả giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy do cơ quan có thẩm quyền cấp với mục đích bán lại cho người khác với giá cao để kiếm lời thì Gi đồng ý. Khi mua bán giữa Gi với ông Tr không có làm hợp đồng, kèm theo xe là giấy chứng nhận đăng ký xe bản phôtô công chứng. Sau khi mua được xe, Th lên mạng xã hội Facebook thuê một người không xác định được họ, tên, địa chỉ để làm giả giấy chứng nhận đăng ký cho chiếc xe nêu trên với giá 1.500.000 đồng. Cách thức làm giả Th sử dụng điện thoại di động Iphone 6 của Th chụp ảnh giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy bản công chứng, số cấp giấy 035508, tên chủ xe Võ Văn B, biển số đăng ký của xe 69B1-029.68, cấp ngày 01/8/2019 gửi cho người nhận để làm giả bản chính. Khoảng 15 ngày sau, thông qua dịch vụ giao hàng Th và Gi nhận được giấy tờ giả. Gi thanh toán cho người giao số tiền là 1.500.000 đồng, đồng thời Gi giao việc tìm người bán xe cho Th thực hiện. Th dùng thủ đoạn gian dối bán chiếc xe có giấy tờ giả cho ông Đỗ Văn Đ ở ấp V, xã H, huyện C với số tiền 15.000.000 đồng. Th chia cho Gi 12.500.000 đồng, Th giữ lại 2.500.000 đồng để sử dụng vào mục đích cá nhân.

Đến ngày 17/3/2022, qua công tác tuần tra, kiểm soát Công an huyện Cái Nước phát hiện ông Đ vi phạm hành chính nên dừng phương tiện để kiểm tra, nghi ngờ giấy chứng nhận đăng ký xe là giả nên tạm giữ phương tiện.

Tại Kết luận giám định số 112/KL-KTHS ngày 02/5/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Cà Mau kết luận: Chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy số 035508, tên chủ xe Võ Văn B, biển số đăng ký 69B1-029.68, ngày 01/8/2019 (Ký hiệu A1) là giả; Chữ ký trên “Chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy số 035508, tên chủ xe Võ Văn B, biển số đăng ký 69B1-029.68, ngày 01/8/2019 (Ký hiệu A1) là chữ ký sao chụp; Hình dấu tròn màu đỏ trên Chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy số 035508, tên chủ xe Võ Văn B, biển số đăng ký 69B1-029.68, ngày 01/8/2019 (Ký hiệu A1) là hình dấu sao chụp.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 02/2023/HS-ST ngày 13/01/2023 của Tòa án nhân dân huyện Cái Nước đã quyết định:

- Căn cứ điểm d khoản 2 Điều 341, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Gi 02 (hai) năm tù về tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”; Căn cứ khoản 1 Điều 174; điểm b, i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Gi 09 (chín) tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Bị cáo Gi phải chấp hành hình phạt chung của 02 tội là 02 (hai) năm 09 (chín) tháng tù.

- Căn cứ điểm d khoản 2 Điều 341, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Th 02 (hai) năm tù về tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”; Căn cứ khoản 1 Điều 174; điểm b, i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Th 06 (sáu) tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Bị cáo Th phải chấp hành hình phạt chung của 02 tội là 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù.

Ngoài ra, án sơ thẩm còn xử lý vật chứng, án phí, quyền kháng cáo theo luật định.

- Ngày 27/01/2023, bị cáo Gi kháng cáo xin được giảm nhẹ hình phạt. Ngày 07/02/2023 bị cáo thay đổi kháng cáo kêu oan.

- Ngày 10/3/2023, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau kháng nghị toàn bộ bản án sơ thẩm đề nghị hủy toàn bộ Bản án hình sự sơ thẩm số 02/2023/HS-ST ngày 13/01/2023 của Tòa án nhân dân huyện Cái Nước đề điều tra giải quyết lại theo thủ tục chung do có vi phạm về thủ tục tố tụng và nội dung.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

- Bị cáo Gi thay đổi kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau: Đề nghị áp dụng điểm c khoản 1 Điều 355; Điều 358 của Bộ luật Tố tụng hình sự, đề nghị hủy toàn bộ Bản án hình sự sơ thẩm số 02/2023/HS-ST ngày 13/01/2023 của Tòa án nhân dân huyện Cái Nước đề điều tra giải quyết lại theo thủ tục chung.

- Lời nói sau cùng của bị cáo Th: Thừa nhận hành vi phạm tội. Đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật đối với kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau.

- Lời nói sau cùng của bị cáo Gi: Thừa nhận hành vi phạm tội, xin giảm nhẹ hình phạt. Đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật đối với kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Tại phiên tòa phúc thẩm, các bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội, cụ thể: Nguyễn Hoàng Gi và Nguyễn Văn Th có hành vi thuê người làm giả Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy số 035508, tên chủ xe Võ Văn B 1995, biển số đăng ký 69B1- 029.68, Trưởng Công an huyện Cái Nước cấp ngày 01/8/2019. Sau đó, Gi và Th sử dụng giấy đăng ký xe giả này bán chiếc xe mô tô hiệu YAMAHA loại Exiter dung tích xi lanh 149.8 cm3 biển số 69B1- 029.68 cho ông Đỗ Văn Đ với giá 15 triệu đồng. Với các hành vi này, Tòa án nhân dân huyện Cái Nước xét xử các bị cáo về tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” theo Điều 341 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ.

Đối với hành vi của Gi và Th bán chiếc xe mô tô biển số 69B1- 029.68 cho ông Đ và các vấn đề liên quan:

Nguồn gốc chiếc xe là của ông Võ Văn B mua tại tiệm cầm đồ, mua bán xe cũ tên Đ thuộc phường 8, thành phố Cà Mau vào khoảng tháng 7, 8 năm 2019 với giá 37 triệu đồng. Ông B được Công ty Tài chính TNHH Ngân hàng V (viết tắt là VPB SMMC) hỗ trợ vốn mua xe. VPB SMMC cho ông B vay số tiền 25.584.000 đồng, ông B trả góp cho VPB SMMC 1.693.000 đồng/tháng, đồng thời thế chấp chiếc xe nói trên. Ông B trả tiền mặt cho cửa hàng xe Đ 12.500.000 đồng. VPB SMMC giữ giấy đăng ký xe bản gốc, ông B quản lý xe và sử dụng xe kèm Giấy chứng nhận đăng ký bản photo công chứng. Thời hạn vay đến ngày 02/8/2021. Khoảng tháng 4 năm 2021, ông B đem chiếc xe cầm cho tiệm cầm đồ của ông Trần Xuân Tr với giá 08 triệu đồng. Do ông B không chuộc lại xe, nên khoảng tháng 01 năm 2022, ông Tr bán chiếc xe cho Nguyễn Hoàng Gi với giá 9.000.000 đồng. Sau đó, Gi và Th bán xe cho ông Đ với giá 15.000.000 đồng và thực tế có giao xe cho Đ quản lý, sử dụng. Như vậy, trong số tiền 15.000.000 đồng này có 9.000.000 đồng là của bị cáo Gi. Đáng lẽ ra, trong quá trình điều tra phải tiến hành định giá để xác định giá trị thực tế của chiếc xe là bao nhiêu tiền, từ đó xác định ông Đ có bị thiệt hại khi mua chiếc xe này hay không. Mặt khác, theo Công văn số 9993/AN-FC.22 ngày 21/9/2022 của VPB SMMC gửi Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Cái Nước, khoản nợ của ông B đã quá hạn, VPB SMMC có yêu cầu ông B trả nợ hoặc yêu cầu được nhận tài sản thế chấp là chiếc xe nói trên (bút lục số 84). Tuy nhiên, khi xét xử, cấp sơ thẩm không đưa VPB SMMC tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan để giải quyết toàn diện vụ án là có vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng.

Xét thấy việc điều tra ở cấp sơ thẩm không đầy đủ mà cấp phúc thẩm không thể bổ sung được và có vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng, cần thiết phải hủy toàn bộ bản án sơ thẩm để giao hồ sơ về cấp sơ thẩm điều tra, giải quyết lại vụ án theo thủ tục chung.

Với các phân tích nêu trên, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau về việc đề nghị hủy án sơ thẩm được chấp nhận.

Do hủy án sơ thẩm, nên không xem xét kháng cáo của bị cáo Nguyễn Hoàng Gi.

Bị cáo Th không phải chịu án phí hình sự sơ thẩm. Bị cáo Gi không phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí hình sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 355; điểm b khoản 1 và điểm b khoản 2 Điều 358 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

1. Chấp nhận kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau, hủy Bản án hình sự sơ thẩm số 02/2023/HS-ST ngày 13 tháng 01 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Cái Nước.

2. Giao hồ sơ về cho Viện kiểm sát nhân dân huyện Cái Nước để điều tra, giải quyết lại theo thủ tục chung.

3. Bị cáo Nguyễn Văn Th không phải chịu án phí hình sự sơ thẩm. Bị cáo Nguyễn Hoàng Gi không phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí hình sự phúc thẩm.

4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ