- Tranh chấp gì? án hình sự — "Võ Thị Thu Hiền - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận kháng cáo xin được hưởng án treo của bị cáo Võ Thị Thu H và sửa bản án hình sự sơ thẩm số 85/2022/HS-ST ngày 15/11/2022 của Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Bình Định.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH ĐỊNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số:23/2023/HS-PT Ngày 27- 02 - 2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH ĐỊNH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Tuấn
Các Thẩm phán:
Ông Lê Xuân Hải
Bà Nguyễn Thị Hoài Xuân
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Nguyên Thủy là Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bình Định.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Định tham gia phiên tòa: Bà Võ Thị Lệ Giang – Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 02 năm 2022 tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Bình Định xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 195/2022/TLPT-HS ngày 23 tháng 12 năm 2022 đối với bị cáo Võ Thị Thu H do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 85/2022/HS-ST ngày 15 tháng 11 năm 2022 của Tòa án nhân dân huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định.
- Bị cáo có kháng cáo:
Võ Thị Thu H - Sinh năm 1987 tại thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định; nơi cư trú: Tổ 23, khu phố 3, phường Trần Phú, thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định; nghề nghiệp: Buôn bán; trình độ văn hoá: 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Võ Dũng (Chết) và bà Huỳnh Thị Minh Tâm, sinh năm 1968; chồng Trần Minh Hòa, sinh năm 1984 (đã ly hôn); Có 03 con, lớn nhất sinh năm 2007 và nhỏ nhất sinh năm 2015; tiền án, tiền sự: không; bị cáo bị áp dụng biện pháp “Cấm đi khỏi nơi cư trú” từ ngày 12/7/2022 đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
- Người bị hại: Bùi Thị T, sinh năm 1986; nơi cư trú: Khu phố Công Chánh, thị trấn T, huyện T, tỉnh Bình Định vắng mặt
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:Dương Chí Tâm, sinh năm 1991; nơi cư trú: Số nhà 202 đường Nguyễn Huệ, thị trấn T, huyện T, tỉnh Bình Định. vắng mặt
- Người làm chứng: Huỳnh Thị Minh T, sinh năm 1968; nơi cư trú: Tổ 23, khu phố 3, phường Trần Phú, thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định vắng mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 11 giờ ngày 15/5/2022, Võ Thị Thu H điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Suzuki, số loại Skydrive, màu xám đen, biển số 77L2-253.03 đến nhà chị Bùi Thị T để chơi. Quá trình chơi tại nhà chị Tuyết, Hiền đi vệ sinh thì thấy ví tiền màu xám của chị Tuyết để trên bàn ở phòng bếp nên nảy sinh ý định chiếm đoạt để tiêu xài cá nhân và chuộc chiếc điện thoại của Hiền đang thế chấp tại tiệm điện thoại “Thanh Tâm” của ông Dương Chí T. Sau khi đi vệ sinh xong, H đi lên phòng khách tiếp tục ngồi chơi với chị T. Khoảng 20 phút sau, H giả vờ nói với chị Tuyết là đau bụng nên đi xuống nhà sau để đi vê sinh. Khi đi đến phòng bếp, H đã lén lúc lấy ví tiền của chị T đang để trên bàn, mở ra thì thấy bên trong có một cọc tiền gồm nhiều loại mệnh giá khác nhau nên đã rút lấy một số tờ tiền mệnh giá 500.000 đồng (Năm trăm nghìn đồng) mà không lấy hết tiền vì sợ chị T phát hiện. Sau đó, Hiền lên phòng khách ngồi chơi với chị T một lúc thì ra về. Sau khi về nhà, H kiểm điếm số tiền vừa chiếm đoạt của chị Tuyết được 4.500.000 đồng (Bốn triệu năm trăm nghìn đồng). H lấy số tiền 1.000.000 đồng (Một triệu đồng) đến tiệm điện thoại của ông Dương Chí T để chuộc chiếc điện thoại đã cầm cố trước đó, số tiền còn lại H đã tiêu xài cá nhân hết.
Trong quá trình điều tra, Võ Thị Thu H đã trả lại cho chị Bùi Thị T số tiền 2.000.000 đồng (Hai triệu đồng); sau khi Tòa thụ lý vụ án, bị cáo Hiền đã trả hết số tiền còn lại là 2.500.000 đồng (Hai triệu năm trăm nghìn đồng) cho chị Tuyết xong.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại không yêu cầu bị cáo bồi thường.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 85/2022/HS-ST ngày 15 tháng 11 năm 2022, Tòa án nhân dân huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định đã quyết định:
- Tuyên bố bị cáo Võ Thị Thu Hiền phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Căn cứ khoản 1 Điều 173, điểm b i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, khoản 3 Điều 54 Bộ luật hình sự năm 2015.
Xử phạt bị cáo Võ Thị Thu H03 (ba) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt đi thi hành án.
Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo của bị cáo, những người tham gia tố tụng theo quy định của pháp luật.
Ngày 30/11/2022 bị cáo Võ Thị Thu H kháng cáo xin được hưởng án treo.
Tại phiên tòa, kiểm sát viên phát biểu quan điểm của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Định và đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355 , điểm e khoản 1 Điều 357 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 chấp nhận kháng cáo của bị cáo Võ Thị Thu H, áp dụng thêm Điều 65 của Bộ luật hình sự, sửa Bản án hình sự sơ thẩm giữ nguyên phần hình phạt nhưng cho hưởng án treo ấn định thời gian thử thách.
Bị cáo không tự bào chữa và tranh luận.
Bị cáo nói lời sau cùng. Bị cáo xin Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng án treo hoặc cải tạo không giam giữ để nuôi 02 con nhỏ.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Võ Thị Thu H thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của những người tham gia tố tụng khác tại Cơ quan Điều tra, Tại phiên tòa sơ thẩm và phù hợp với các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án nên có cơ sở để kết luận.
Khoảng 11 giờ ngày 15/5/2022, Võ Thị Thu H điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Suzuki biển số 77L2-253.03 đến nhà chị Bùi Thị T để chơi. Trong quá trình chơi tại nhà chị T, H đi vệ sinh thấy ví tiền màu xám của chị T để trên bàn phòng bếp nảy sinh ý định chiếm đoạt để tiêu xài cá nhân và chuộc chiếc điện thoại của H đang thế chấp tại tiệm điện thoại “Thanh Tâm” của ông Dương Chí T. Nên khoảng 20 phút sau, H giả vờ đau bụng nên xuống nhà sau để đi vệ sinh. Khi đến phòng bếp, H lén lút lấy ví tiền của Tuyết đang để trên bàn mở ra và rút trộm số tiền 4.500.000 đồng (bốn triệu năm trăm ngàn đồng), Hiền lấy 1.000.000 đồng (một triệu đồng) đến tiệm điện thoại của ông Dương Chí T để chuộc chiếc điện thoại đã cầm cố trước đó, số tiền còn lại đã tiêu xài cá nhân hết.
Với hành vi phạm tội như trên, Tòa án nhân dân huyện T kết án bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự năm 2015 là có căn cứ, đúng pháp luật.
Xét kháng cáo của bị cáo Võ Thị Thu H, Hội đồng xét xử phúc thẩm thấy rằng:
Hành vi của bị cáo Võ Thị Thu H đã lén lút lấy ví tiền của chị Bùi Thị T để trên bàn phòng bếp và rút trộm số tiền 4.500.000 đồng (bốn triệu năm trăm ngàn đồng) hành vi của bị cáo Võ Thị Thu H đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản”. Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét, áp dụng đúng, đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm b i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự như tự nguyện bồi thường, khắc phục hậu quả, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, được người bị hại viết đơn bãi nại và xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Từ đó, áp dụng thêm khoản 3 Điều 54 của Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo 03 tháng tù là tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm do hành vi trái pháp luật mà bị cáo gây ra là phù hợp. Tuy nhiên, xét thấy bị cáo là lao động chính trong gia đình đã ly hôn chồng, đang nuôi 02 con nhỏ, bị cáo có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng, nên không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội mà áp dụng hình phạt tù có điều kiện cũng đủ tác dụng giáo dục bị cáo thành người lương thiện. Do đó, Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận kháng cáo xin được hưởng án treo của bị cáo Võ Thị Thu H.
Các quyết định khác của bản án hình sự sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và điểm h khoản 2 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường Vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý sử dụng án phí và lệ phí Tòa án thì bị cáo Võ Thị Thu H không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, điểm e khoản 1 Điều 357 của Bộ luật tố tụng hình sự.
Chấp nhận kháng cáo xin được hưởng án treo của bị cáo Võ Thị Thu H và sửa bản án hình sự sơ thẩm số 85/2022/HS-ST ngày 15/11/2022 của Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Bình Định.
1. Áp dụng khoản 1 Điều 173; các điểm b, i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; khoản 3 Điều 54, Điều 65 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Võ Thị Thu H 03 (ba) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 12 (mười hai) tháng kể từ ngày tuyên án phúc thẩm.
Giao bị cáo Võ Thị Thu H cho Ủy ban nhân dân phường Trần Phú, thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định (là nơi Võ Thị Thu H cư trú) giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú được áp dụng theo quy định của Luật thi hành án hình sự.
2. Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và điểm h khoản 2 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường Vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý sử dụng án phí và lệ phí Tòa án thì bị cáo Võ Thị Thu H không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
3. Các quyết định khác của bản án hình sự sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
| Nơi nhận: - Vụ GĐKT1.TANDTC; - VKSND tỉnh Bình Định; - TA,VKS, CQĐT Công an huyện T; - Cơ quan THAHS Công an huyện T; - Chi cục THADS huyện T; - Sở Tư pháp tỉnh Bình Định; - Cơ quan HSNV Công an tỉnh Bình Định; - Bị cáo; - Lưu: VT, hồ sơ vụ án. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Lê Xuân Hải Nguyễn Thị Hoài Xuân | TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Nguyễn Thanh Tuấn THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thanh Tuấn |