vanban.org

Bản án 23/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

* Tuyên án: Về hôn nhân: Công nhận bà Trịnh Mỹ S và ông Đoàn Tuấn H thuận tình ly hôn. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "tranh chấp ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
QUẬN THỐT NỐT
THÀNH PHỐ CẦN THƠ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 23/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 30-3-2023
“V/v tranh chấp ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THỐT NỐT, TP. CẦN THƠ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hoàng Thị Kim Hưng.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Lê Cẩm Huỳnh.

2. Ông Nguyễn Hữu Đức.

- Thư ký phiên tòa: Ông Huỳnh Trung Hiếu – Thư ký Tòa án nhân dân quận Thốt Nốt, thành phố Cần Thơ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Thốt Nốt, thành phố Cần Thơ tham gia phiên toà: Bà Trần Thị Kiều Oanh - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 3 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Thốt Nốt, thành phố Cần Thơ xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 39/2023/TLST-HNGĐ ngày 22 tháng 02 năm 2023 về tranh chấp ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 45/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 16 tháng 3 năm 2023 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Trịnh Mỹ S, sinh năm 1968 (Có mặt)

Địa chỉ: Khu vực T1, phường N, quận N, thành phố C.

2. Bị đơn: Ông Đoàn Tuấn H, sinh năm 1970

(Xin vắng mặt)

ĐKTT: Khu vực L1, phường N, quận N, thành phố C.

Nơi ở hiện nay: Khu vực T1, phường N, quận N, thành phố C.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Tại đơn khởi kiện ngày 25/10/2022, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa nguyên đơn bà Trịnh Mỹ S trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Bà và ông Đoàn Tuấn H tiến đến hôn nhân vào tháng 10/2005 trên cơ sở tự nguyện, có tổ chức lễ cưới, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn N, huyện N (cũ), thành phố C theo số đăng ký 49 ngày 15/3/2007. Trong suốt quá trình chung sống, bà S cho rằng ông H chỉ chăm lo cho bản thân ông, kinh tế ông làm tự thu tự chi, thiếu quan tâm vun vén đời sống vật chất gia đình, nhiều lúc ông có hành vi bạo lực thể chất và tinh thần đối với vợ con; thời gian gần đây ông H còn đập phá tài sản làm cho mâu thuẫn vợ chồng thêm trầm trọng. Nay bà nhận thấy tình trạng hôn nhân không thể kéo dài được nữa, tình cảm với ông H cũng không còn mà luôn thấy bất an khi chung sống với ông nên bà yêu cầu ly hôn.

* Bị đơn ông Đoàn Tuấn H trình bày: Về hôn nhân ông thống nhất ý kiến trình bày của bà S về thời gian chung sống, có đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật. Về nguyên nhân mâu thuẫn ông cho rằng phát sinh vào khoảng tháng 8/2022, do bà S ghen tuông vô lý từ đó vợ chồng không nói chuyện với nhau. Nay qua yêu cầu ly hôn của bà S, ông đồng ý. Ngoài ra, ông yêu cầu được vắng mặt khi Tòa án triệu tập tham gia tố tụng.

Về con chung: Ông bà thống nhất xác định có 01 con chung tên Đoàn Quốc H (nam), sinh ngày 04/3/2007. Hiện con chung do bà S chăm sóc. Khi ly hôn ông bà đều yêu cầu được nuôi con, không yêu cầu người không trực tiếp nuôi con phải cấp dưỡng nuôi con, trường hợp Tòa án giao con cho ông hoặc bà nuôi thì người không trực tiếp nuôi con không tự nguyện cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Ông bà thống nhất tự thỏa thuận, không yêu cầu giải quyết.

Về nợ chung: Ông bà thống nhất xác định không có.

Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký; việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự từ khi thụ lý vụ án và tại phiên tòa hôm nay là đúng theo quy định pháp luật, đồng thời phát biểu quan điểm giải quyết vụ án như sau: Về hôn nhân công nhận bà Trịnh Mỹ S và ông Đoàn Tuấn H thuận tình ly hôn. Về con chung có 01 con chung tên Đoàn Quốc H (nam), sinh ngày 04/3/2007; giao con chung cho bà S trực tiếp nuôi dưỡng, ông H không phải cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung: Ông bà tự thỏa thuận nên không đặt vấn đề giải quyết; Về nợ chung: Ông bà xác định không có nên không đặt vấn đề giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng: Bị đơn ông Đoàn Tuấn H yêu cầu Tòa án xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt ông.

Về quan hệ hôn nhân: Xét quan hệ hôn nhân của bà Trịnh Mỹ S và ông Đoàn Tuấn H là tự nguyện. Ông bà tiến tới hôn nhân vào năm 2005, có đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật nên được xem là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống giữa vợ chồng phát sinh mâu thuẫn và bà S có đơn khởi kiện ly hôn đối với ông H nên Tòa án thụ lý xem xét, giải quyết theo thủ tục chung.

Xét yêu cầu ly hôn của bà S, Hội đồng xét xử nhận thấy: Trong quá trình chung sống ông bà thừa nhận có phát sinh mâu thuẫn, tuy về nguyên nhân mâu thuẫn theo sự nhìn nhận riêng của mỗi người nhưng ông bà không tìm cách khắc phục. Nay bà S xác định không còn tình cảm với ông H, không thể tiếp tục tình trạng hôn nhân và ông H cũng đồng ý ly hôn theo yêu cầu của bà S. Xét vợ chồng có nghĩa vụ yêu thương, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau, cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình nhưng nay bà S, ông H thống nhất ly hôn nên Hội đồng xét xử áp dụng quy định tại Điều 55 Luật hôn nhân gia đình năm 2014 công nhận cho bà Trịnh Mỹ S và ông Đoàn Tuấn H thuận tình ly hôn.

Về con chung: Ông bà có một con chung tên Đoàn Quốc H (giới tính: nam), sinh ngày 04/3/2007. Xét hiện nay việc chăm sóc con do bà S thực hiện và con có nguyện vọng được sống với mẹ. Do vậy, Hội đồng xét xử xét thấy giao con cho bà S trực tiếp nuôi con là phù hợp. Ngoài ra, xét vấn đề cấp dưỡng nuôi con là nghĩa vụ của cha mẹ, người không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con, tuy nhiên người được quyền yêu cầu cấp dưỡng không yêu cầu ông H thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nên Hội đồng xét xử không buộc ông H pH cấp dưỡng nuôi con là phù hợp.

Về tài sản chung: Bà S, ông H thống nhất tự thỏa thuận, không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt vấn đề giải quyết.

Về nợ chung: Bà S, ông H xác định không có nên Hội đồng xét xử không đặt vấn đề xem xét giải quyết.

Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Bà S tự nguyện chịu toàn bộ án phí theo quy định.

Xét đề nghị giải quyết vụ án của đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa có cơ sở chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

- Các Điều 28, 35, 39, 147, 228, 266, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

- Điều 55, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;

- Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

* Tuyên án:

1. Về hôn nhân: Công nhận bà Trịnh Mỹ S và ông Đoàn Tuấn H thuận tình ly hôn.

2. Về con chung: Có 01 (một) con chung tên Đoàn Quốc Huy (giới tính: nam), sinh ngày 04/3/2007. Giao con chung cho bà S trực tiếp nuôi dưỡng; ông H không phải cấp dưỡng nuôi con.

Dành quyền thăm nom, chăm sóc và giáo dục con chung cho ông H không ai được quyền cản trở. Ông H, bà S được quyền yêu cầu thay đổi người nuôi con vì lợi ích của con.

3. Về tài sản chung và nợ chung: Không đặt vấn đề giải quyết. Nếu sau này phát sinh tranh chấp sẽ giải quyết thành vụ án khác.

- Về án phí Hôn nhân và Gia đình sơ thẩm: Bà Trịnh Mỹ S phải chịu tiền án phí là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) nhưng được khấu trừ từ số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng mà bà đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Thốt Nốt, thành phố Cần Thơ theo biên lai thu tiền số 0004934 ngày 13/02/2023 được chuyển thành án phí.

Bà Trịnh Mỹ S được nhận lại số tiền tạm ứng án phí 625.000đ (Sáu trăm hai mươi lăm nghìn đồng) theo biên lai thu số 0004935 ngày 13/02/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Thốt Nốt.

Đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người pH thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự. Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- Các đương sự;

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

- VKSND quận Thốt Nốt;

(Đã ký)

- UBND phường Thốt Nốt;

- Lưu hồ sơ vụ án.

Hoàng Thị Kim Hưng

Cỡ chữ