vanban.org

Bản án 23/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Chị Lưu Thị Mai H được ly hôn với anh Lê Viết Đại L.

Quan hệ hôn nhân chấm dứt và giấy chứng nhận kết hôn số 145, quyển số 02/2015 do Ủy ban nhân dân thị trấn Gia Ray, huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai cấp không còn giá trị pháp lý, kể từ ngày bản án, quyết định ly hôn có hiệu lực pháp luật. Về con chung: Giao 02 cháu Lê Viết Đại E, sinh ngày 19/11/2014, … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "ly hôn, tranh chấp nuôi con"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chị Lưu Thị Mai H được ly hôn với anh Lê Viết Đại L.
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN XUÂN LỘC
TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 23/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 13-3-2023
V/v: “Ly hôn, tranh chấp nuôi
con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN XUÂN LỘC

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lưu Ly

- Hội thẩm nhân dân: Ông Châu Văn Nhâm

Bà Trần Thị Kim Tân

- Thư ký phiên tòa: Bà Đinh Thị Phương Thảo - Thư ký tòa án nhân

dân huyện Xuân Lộc.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuân Lộc: Bà Phạm Thị Lý - Kiểm sát viên.

Vào ngày 13/3/2023, tại Tòa án nhân dân huyện Xuân Lộc xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 694/2022/TLST-HNGĐ ngày 17/11/2022 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 08/2023/QĐST-HNGĐ ngày 07/02/2023; Quyết định Hoãn phiên tòa số 38/2023/QĐST-HNGĐ ngày 23 tháng 02 năm 2023 giữa:

- Nguyên đơn: Chị Lưu Thị Mai H, sinh năm: 1994 (Vắng mặt)

ĐKTT: Khu phố 4, thị trấn R, huyện L, tỉnh Đ

- Bị đơn: Anh Lê Viết Đại L, sinh năm: 1993 (Vắng mặt)

ĐKTT: Khu phố 4, thị trấn R, huyện L, tỉnh Đ

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, các lời khai bổ sung nguyên đơn chị Lưu Thị Mai H trình bày: Trên cơ sở tìm hiểu tự nguyện chị và anh Lê Viết Đại L chung sống và đăng ký kết hôn với nhau năm 2015 tại Ủy ban nhân dân thị trấn Gia Ray, huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai. Đây là lần kết hôn đầu tiên của anh chị.

Sau khi kết hôn anh chị chung sống một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, tính tình không hợp, dẫn đến vợ chồng thường xuyên mâu thuẫn, cãi vã, xúc phạm lẫn nhau. Chị và anh Lê Viết Đại L không còn chung sống với nhau từ tháng 5/2022 đến nay không ai quan tâm chăm sóc ai, bỏ mặc nhau. Khi xảy ra mâu thuẫn bản thân anh chị và hai bên gia đình đã tự hòa giải nhiều lần nhưng không có kết quả. Nay tình cảm của chị đối với anh Lê Viết Đại L không còn nên chị yêu cầu được ly hôn.

Về con chung: Anh chị có 02 con chung Lê Viết Đại E, sinh ngày 19/11/2014, Lê Viết Đại Ksinh ngày 15/5/2017. Khi ly hôn chị yêu cầu nuôi 02 con chung và không yêu cầu anh L cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: Không có.

Bị đơn anh Lê Viết Đại L đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng anh L vẫn vắng mặt, do đó không có lời khai.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuân Lộc phát biểu quan điểm:

Về quan hệ pháp luật, xác định tư cách đương sự tham gia tố tụng, thực hiện thông báo thụ lý vụ án đã được Tòa án nhân dân huyện Xuân Lộc xác định đầy đủ và đúng quy định pháp luật.

Về quá trình thu thập chứng cứ là biên bản xác minh tình trạng hôn nhân, đảm bảo theo trình tự tố tụng dân sự.

Về tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Hội đồng xét xử đã được thực hiện đúng tố tụng dân sự.

Về nội dung vụ án: Xét yêu cầu xin ly hôn của chịH nhận thấy: Mâu thuẫn vợ chồng của chịH và anh L đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, nên chấp nhận cho chịH được ly hôn với anh L là phù hợp với Điều 56 Luật hôn nhân gia đình.

Về con chung: Anh chị có 02 con chung Lê Viết Đại E, sinh ngày 19/11/2014, Lê Viết Đại Ksinh ngày 15/5/2017. Khi ly hôn chịH yêu cầu nuôi 02 con chung và không yêu cầu anh L cấp dưỡng nuôi con. Nhận thấy, cháu Lê Viết Đại E có nguyện vọng được sống cùng với mẹ, cháu Lê Viết Đại Kcòn nhỏ cần thiết có sự chăm sóc của người mẹ nên chấp nhận cho chịH được nuôi 02 con chung sau ly hôn là phù hợp.

Về tài sản chung: ChịH trình bày không có, anh L không có lời khai, nên không giải quyết.

Nợ chung: ChịH khai không có, anh L không có lời khai, nên không giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tư cách tham gia tố tụng: Chị Lưu Thị Mai H có đơn khởi kiện xin ly hôn với anh Lê Viết Đại L, do đó xác định chịH là nguyên đơn, anh L là bị đơn.

Về thủ tục tố tụng: Chị Lưu Thị Mai H có đơn xin xét xử vắng mặt. Anh Lê Viết Đại L đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Nên xét xử vắng mặt chịH và anh L tại phiên tòa là phù hợp với quy định tại khoản 1, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Lưu Thị Mai H và anh Lê Viết Đại L tự nguyện tiến đến hôn nhân, có đăng ký kết hôn theo luật định nên được pháp luật công nhận và bảo vệ.

Xét yêu cầu ly hôn của chị Lưu Thị Mai H nhận thấy: ChịH cho rằng vợ chồng chung sống không hạnh phúc nguyên nhân do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, tính tình không hợp, dẫn đến vợ chồng thường xuyên mâu thuẫn, cãi vã, xúc phạm lẫn nhau. Chị và anh L hiện không còn chung sống với nhau từ tháng 5 năm 2022 đến nay. Quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã triệu tập anh Lê Viết Đại L nhiều lần để làm việc, hòa giải nhưng anh L vẫn vắng mặt không có lý do, điều đó cho thấy anh L không có thiện chí đoàn tụ vợ chồng. Biên bản xác minh tình trạng hôn nhân tại địa phương được biết anh Lê Viết Đại L đang sinh sống tại tổ 9, Khu phố 4, thị trấn R, huyện L, tỉnh Đ Hiện nay chịH và anh L đã ly thân, mâu thuẫn vợ chồng của anh chị địa phương không nắm được. Như vậy, chứng tỏ tình trạng hôn nhân của anh chị mâu thuẫn đã thật sự trầm trọng, không thể hàn gắn, mục đích hôn nhân không đạt được, do vậy nên chấp nhận cho chịH được ly hôn với anh L là phù hợp.

Về con chung: Anh chị có 02 con chung Lê Viết Đại E, sinh ngày 19/11/2014, Lê Viết Đại Ksinh ngày 15/5/2017. Khi ly hôn chị H yêu cầu được nuôi 02 con chung và không yêu cầu anh L cấp dưỡng nuôi con. Xét thấy, cháu Lê Viết Đại E có nguyện vọng được sống cùng với mẹ, cháu Lê Viết Đại Kcòn nhỏ cần thiết có sự chăm sóc của người mẹ. Hơn nữa, từ khi vợ chồng anh chị ly thân đến nay, chịH vẫn đang trực tiếp nuôi dưỡng 02 cháu nên chấp nhận cho chịH được tiếp tục nuôi dưỡng 02 con chung sau khi ly hôn.

ChịH không yêu cầu anh L cấp dưỡng nuôi con, nên tạm thời anh L không phải cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: Do bị đơn vắng mặt, không cung cấp lời khai cũng như ý kiến để xác định anh chị có tài sản chung, nợ chung không, nên không giải quyết.

Về án phí: Chị Lưu Thị MaiH phải nộp 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Áp dụng Điều 28, Điều 35; Điều 39, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự;

- Áp dụng Điều 51; Điều 56, Điều 57, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 85 của Luật Hôn nhân gia đình 2014;

- Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/PL-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về án phí, lệ phí Tòa án:

- Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Lưu Thị Mai H được ly hôn với anh Lê Viết Đại L.

Quan hệ hôn nhân chấm dứt và giấy chứng nhận kết hôn số 145, quyển số 02/2015 do Ủy ban nhân dân thị trấn Gia Ray, huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai cấp không còn giá trị pháp lý, kể từ ngày bản án, quyết định ly hôn có hiệu lực pháp luật.

2. Về con chung: Giao 02 cháu Lê Viết Đại E, sinh ngày 19/11/2014, Lê Viết Đại Ksinh ngày 15/5/2017 cho chị Lưu Thị Mai H trực tiếp nuôi dưỡng đến khi đủ 18 tuổi và có khả năng lao động.

Anh Lê Viết Đại L được quyền thăm nom con chung nhưng không gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con của chị Lưu Thị Mai H.

Khi cần thiết, chị Lưu Thị Mai H và anh Lê Viết Đại L được quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con cũng như việc cấp dưỡng nuôi con.

Sau khi ly hôn, quyền và nghĩa vụ của cha mẹ đối với con chung vẫn được pháp luật bảo vệ.

Tạm thời anh Lê Viết Đại L không phải cấp dưỡng nuôi con do chị Lưu Thị Mai H không có yêu cầu.

3. Về tài sản chung và nợ chung: Không giải quyết.

4. Về án phí: Chị Lưu Thị Mai H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm ly hôn là 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng), nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) theo biên lai thu số 0006986 ngày 11/11/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Xuân Lộc.

Chị Lưu Thị Mai H và anh Lê Viết Đại L được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày tròn kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Hội thẩm nhân dân

Lưu Ly

Châu Văn Nhâm

Trần Thị Kim Tân

Cỡ chữ