vanban.org

Bản án 23/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Anh Bùi Duy T được ly hôn chị Phạm Thị Tố U.

Về con chung: Anh Bùi Duy T và chị Phạm Thị Tố U có 01 con chung. Khi ly hôn, giao anh T là người trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cháu Bùi Tiến Đ – sinh ngày 10/8/2021; tạm hoãn tiền cấp dưỡng nuôi con đối với chị U cho đến khi có đề nghị thay đổi khác. Chị U có quyền, nghĩa vụ… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "bản án Tạo + Uyên"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Anh Bùi Duy T được ly hôn chị Phạm Thị Tố U.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ỨNG HÒA - TP HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 23/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 06-6-2023
V/v tranh chấp Hôn nhân & gia đình

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ỨNG HÒA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Thiện

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Hạ Tuấn và ông Đặng Viết Côi

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị DU, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Ứng Hoà, thành phố Hà Nội.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ứng Hòa tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Tuấn Anh, Kiểm sát viên.

Ngày 06 tháng 6 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Ứng Hòa, thành phố Hà Nội, xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số: 71/2023/TLST- HNG§ ngµy 22 th¸ng 3 n¨m 2023 về “Tranh chấp Hôn nhân và gia đình” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 14/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 26 tháng 4 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên toà số: 19/2023 ngày 12 tháng 5 năm 2023 giữa các đương sự:

1. NgU đơn: Anh Bùi Duy T - sinh năm 1996 (có mặt)

Nơi ĐKHKTT: Thôn T1, xã V, huyện Ư, thành phố Hà Nội

2. Bị đơn: Chị Phạm Thị Tố U – sinh năm 1998 (vắng mặt)

Nơi ĐKHKTT: Thôn T1, xã V, huyện Ư, thành phố Hà Nội

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn ly hôn và các buổi làm việc tại Tòa anh Bùi Duy T là ngU đơn trình bày: anh và chị Phạm Thị Tố U qua một thời gian tìm hiểu thì cả hai kết hôn trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại UBND xã V năm 2021. Sau khi kết hôn, hai vợ chồng sống hạnh phúc được mấy tháng thì phát sinh mâu thuẫn ngU nhân do bất đồng quan điểm sống, không thể tìm thấy tiếng nói chung; cái tôi của mỗi người quá lớn nên không thể hòa hợp được với nhau. Đồng thời vì kinh tế khó khăn nên thường xU va chạm lời qua tiếng lại. Hai vợ chồng sống ly thân từ đầu năm 2022. Trong thời gian sống ly thân; không ai quan tâm đến ai; cuộc sống hôn nhân cũng không cải thiện được. Nay anh nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không Đ nên anh cương quyết xin ly hôn chị U. Về con chung: có 01 con chung là Bùi Tiến Đ – sinh ngày 10/8/2021. Hiện cháu đang ở với anh. Khi ly hôn, anh đề nghị Tòa giải quyết cho anh được nuôi con và không yêu cầu chị U cấp dưỡng tiền nuôi con. Vì: sinh con được 04 tháng thì chị U đã bỏ con lại để anh nuôi từ đó cho đến nay. Trong thời gian sống ly thân chị U thỉnh thoảng về thăm con nhưng không có trách nhiệm về kinh tế đối với con; bản thân anh có nhà cửa ổn định, hiện tại anh đang làm nghề lái xe có thu nhập khoảng 15.000.000đ/tháng. Về tài sản, công nợ chung: anh không yêu cầu đề nghị Tòa giải quyết.

Chị Phạm Thị Tố U không có quan điểm, ý kiến gì.

Tại phiên tòa: Anh Bùi Duy T vẫn giữ ngU quan điểm, không xuất trình thêm tài liệu chứng cứ nào khác.Chị Phạm Thị Tố U vắng mặt và không xuất trình thêm tài liệu, chứng cứ nào khác.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ứng Hòa có quan điểm: Quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã thực hiện đầy đủ các quy định về tố tụng dân sự như tống Đ hợp lệ các văn bản tố tụng cho các đương sự, T điều kiện cho họ được trình bày quan điểm, tiến hành hòa giải theo đúng quy định. Hội đồng tiến hành xét xử vụ án đúng quy định của pháp luật. Về nội dung vụ án: đề nghị Tòa giải quyết xử cho anh Bùi Duy T được ly hôn chị Phạm Thị Tố U. Về con chung, giao anh T là người trực tiếp trong nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cháu Bùi Tiến Đ – sinh ngày 10/8/2021; tạm hoãn tiền cấp dưỡng nuôi con đối với chị U cho đến khi có thay đổi khác; chị U có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai cản trở. Chị U phải nộp án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiªn cøu c¸c tµi liÖu cã trong hå s¬ vô ¸n ® îc thÈm tra t¹i phiªn Toµ vµ c¨n cø vµo kÕt qu¶ tranh luËn t¹i phiªn toµ, ý kiÕn cña c¸c ® ¬ng sù, Héi ®ång xÐt xö nhËn ®Þnh:

Về tố tụng:

Về phạm vi khởi kiện, quan hệ pháp luật: Anh Bùi Duy T có đơn xin đề nghị Tòa án nhân dân huyện Ứng Hòa giải quyết cho chị được ly hôn chị Phạm Thị Tố U và nuôi con chung. Do vậy, đây là tranh chấp ly hôn và tranh chấp về nuôi con theo khoản 1 Điều 28 BLTTDS.

Về thẩm quyền: Quan hệ pháp luật là tranh chấp ly hôn và tranh chấp về nuôi con, bị đơn là chị Phạm Thị Tố U có đăng ký nơi cư trú: thôn Tiền, xã V, huyện Ứng Hòa, thành phố Hà Nội nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Ứng Hòa, thành phố Hà Nội theo điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a, khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về sự vắng mặt của đương sự: Hội đồng xét xử đã mở phiên toà ngày 12/5/2023 nhưng vắng mặt của chị U nên Hội đồng xét xử hoãn phiên toà, tại phiên toà hôm nay mặc dù được triệu tập hợp lệ lần thứ hai chị U vắng mặt không có lý do chính đáng nên căn cứ Điều 227, Điều 228 BLTTDS, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử đối với vụ án.

Về quan hệ hôn nhân: Anh Bùi Duy T và chị Phạm Thị Tố U kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã V, huyện Ứng Hòa, TP. Hà Nội ngày 14/7/2021 là hôn nhân hợp pháp. Sau một thời gian chung sống hạnh phúc thì xảy ra muân thuẫn ngU nhân do bất đồng quan điểm sống, không tìm thấy tiếng nói chung; thường xU xảy ra xô xát. Vì ngU nhân vậy nên cuộc sống hôn nhân của hai anh chị lâm vào tình trạng trầm trọng, vợ chồng đã sống ly thân mấy tháng. Trong thời gian sống ly thân, không ai quan tâm đến ai; không có trách nhiệm với nhau. Qua xác minh tại chính quyền địa phương cung cấp: cuộc sống chung giữa vợ chồng anh T và chị U liên tục xảy ra mâu thuẫn ngU nhân do bất đồng quan điểm sống, hai anh chị đã sống ly thân hơn một năm nay. Nay anh T có đơn ly hôn, chính quyền địa phương có ý kiến: đề nghị Tòa căn cứ vào thực tế và quy định của pháp luật để giải quyết đảm bảo quyền lợi cho các đương sự.

Xét thấy: Cuộc sống giữa anh T và chị U mâu thuẫn từ lâu đã đến mức trầm trọng, sống ly thân, mục đích hôn nhân không Đ. Hội đồng xét xử chấp nhận đơn xin ly hôn của anh T là phù hợp với Điều 56 Luật Hôn nhân gia đình.

Về con chung: Anh Bùi Duy T và chị Phạm Thị Tố U có 01 con chung là Bùi Tiến Đ – sinh ngày 10/8/2021. Anh T có quan điểm đề nghị Tòa gải quyết cho anh được nuôi con, chị U không có quan điểm, ý kiến gì.

Xét về điều kiện chăm sóc, môi trường sinh hoạt và tuổi của cháu Đ thì Hội đồng xét xử thấy: anh T và chị U đều chưa có nhà riêng, xong anh T ở cùng với gia đình. Chị U làm lao động tự do, anh T lái xe có thu nhập từ 15.000.000đ/tháng trở lên. Mặc dù cháu Đ chưa được 36 tháng tuổi; xong từ khi cháu được khoảng 4 tháng tuổi là anh T đã trực tiếp nuôi dưỡng cháu cho đến nay. Trong khi đó, chị U ít khi thăm nom, quan tâm đến con. Để ổn định môi trường sinh sống, điều kiện chăm sóc và thực tế nên giao cháu Đ cho anh T nuôi dưỡng. Đồng thời địa phương cũng có quan điểm: nên giao cho anh T nuôi con để đảm bảo sự phát triển tâm sinh lý của trẻ nhỏ. Vì vậy, Hội đồng xét xử xét thấy cần giao con cho anh T nuôi dưỡng là phù hợp, đảm bảo cho cháu Đ được nuôi dưỡng, chăm sóc tốt nhất là phù hợp với Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình. Anh T không đề nghị chị U cấp dưỡng tiền nuôi con nên tạm hoãn tiền cấp dưỡng nuôi con đối với chị U cho đến khi có thay đổi khác; chị U có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở là phù hợp Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình.

Về tài sản, công nợ chung và các vấn đề khác: Anh Bùi Duy T và chị Phạm Thị Tố U không đề nghị Tòa giải quyết.

Về án phí và quyền kháng cáo: Anh Bùi Duy T phải nộp án phí ly hôn và các đương sự đều được quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 227, 228, khoản 4 Điều 147, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ vào khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và Gia đình;

Căn cứ khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

TU xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Anh Bùi Duy T được ly hôn chị Phạm Thị Tố U.

2. Về con chung: Anh Bùi Duy T và chị Phạm Thị Tố U có 01 con chung. Khi ly hôn, giao anh T là người trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cháu Bùi Tiến Đ – sinh ngày 10/8/2021; tạm hoãn tiền cấp dưỡng nuôi con đối với chị U cho đến khi có đề nghị thay đổi khác. Chị U có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.

3. Về tài sản, công nợ chung và các vấn đề khác: Anh Bùi Duy T và chị Phạm Thị Tố U đều không yêu cầu Toà giải quyết.

4. Về án phí: Anh Bùi Duy T phải nộp 300.000đ án phí ly hôn sơ thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số: 0057924 ngày 22 tháng 03 năm 2023 của Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Ứng Hòa, thành phố Hà Nội.

5. Về quyền kháng cáo: NgU đơn có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tU án. Bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ