vanban.org

Bản án 23/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Lục Thị N. được ly hôn với anh Trương Ngọc S..

Về con chung: Giao cháu Trương Thị H., sinh ngày 05/3/2012 và Trương Thị Mỹ L., sinh ngày 02/4/2018 cho chị Lục Thị N. trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục. Anh Trương Ngọc S. không phải cấp dưỡng nuôi con chung và có quyền, nghĩa vụ đi lại thăm nom con chung mà không ai được cản trở. Về án phí:… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Vụ án về ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Lục Thị N. được ly hôn với anh Trương Ngọc S..
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN SƠN DƢƠNG
TỈNH TUYÊN QUANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 23/2023/HNGĐ-ST
Ngày 14/4/2023
“V/v: Ly hôn, giao nuôi con chung khi ly hôn”

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SƠN DƢƠNG, TỈNH TUYÊN QUANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Tạ Hồng Chiến.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Ngô Cao Lâm và ông Nguyễn Sơn Hải.

Thư ký phiên toà: Bà Phạm Thị Huệ - Thư ký Toà án nhân dân huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Hữu Trí - Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 4 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Sơn Dương mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số: 542/2022/TLST-HNGĐ ngày 02 tháng 12 năm 2022 về việc “Ly hôn, giao nuôi con chung khi ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 08/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 22 tháng 02 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 13/2023/QĐST-HNGĐ ngày 10 tháng 3 năm 2023 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Lục Thị N., sinh năm 1993

Địa chỉ: Thôn H, xã N, huyện S, tỉnh Tuyên Quang (vắng mặt, có đơn xin xử vắng mặt).

- Bị đơn: Anh Trƣơng Ngọc S., sinh năm 1988

Địa chỉ: Thôn H, xã N, huyện S, tỉnh Tuyên Quang (vắng mặt không có lý do).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Lục Thị N. và anh Trương Ngọc S. kết hôn với nhau vào năm 2011, trên cơ sở tự nguyện, tự do tìm hiểu, có tổ chức lễ cưới theo phong tục tập quán của địa phương, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã N, huyện S, tỉnh Tuyên Quang vào ngày 18/02/2011. Sau khi kết hôn vợ chồng sinh sống và làm việc tại thôn H, xã N, huyện S. Quá trình chung sống vợ chồng bình thường, hạnh phúc được thời gian ngắn, hiện vợ chồng đang sống ly thân. Xác định tình cảm vợ chồng không còn, tháng 11/2022 chị Lục Thị N. có đơn khởi kiện đề nghị Tòa án nhân dân huyện Sơn Dương giải quyết cho chị được ly hôn với anh Trương Ngọc S..

Tại đơn khởi kiện, bản tự khai và quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Lục Thị N. trình bày: Nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn do anh S. đua đòi bạn bè chơi bời, không tu trí làm ăn, vợ chồng luôn bất đồng quan điểm dẫn đến thường xuyên cãi nhau. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Trương Ngọc S..

Về con chung: Có 02 con chung là Trương Thị H., sinh ngày 05/3/2012 và Trương Thị Mỹ L., sinh ngày 02/4/2018. Trường hợp ly hôn chị N. đề nghị Tòa án giải quyết giao con chung cho chị được nuôi dưỡng, giáo dục, không yêu cầu anh S. phải cấp dưỡng nuôi con.

Lời khai của cháu Trương Thị H. có trong hồ sơ thể hiện cháu có nguyện vọng được sinh sống cùng với mẹ sau khi bố mẹ ly hôn.

Về tài sản chung, công nợ chung: Chị Lục Thị N. xác định không có, không đề nghị Tòa án giải quyết.

Kết quả xác minh thể hiện: Anh Trương Ngọc S. có hộ khẩu thường trú tại thôn H, xã N, huyện S, tỉnh Tuyên Quang. Anh Trương Ngọc S. và chị Lục Thị N. kết hôn với nhau vào năm 2011, có đăng ký kết hôn tại UBND xã N, huyện S, tỉnh Tuyên Quang theo quy định của pháp luật. Sau khi kết hôn anh chị sinh sống tại thôn H, xã N, huyện S. Quá trình chung sống vợ chồng bình thường, khoảng từ 2 - 3 năm trở lại đây thường phát sinh mâu thuẫn, chị N. đã chuyển về nhà ngoại sống, hiện vợ chồng đang sống ly thân. Anh S. đi làm xa thường xuyên vắng nhà, thi thoảng mới về địa phương.

Anh Trương Ngọc S. không có mặt ở địa phương, Tòa án đã triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng anh S. vẫn không đến Tòa án làm việc. Do vậy, Tòa án nhân dân huyện Sơn Dương chỉ tổ chức phiên họp kiểm tra tiếp cận công khai chứng cứ với nguyên đơn mà không tiến hành hòa giải.

Ý kiến của Viện kiểm sát nhân dân huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang:

- Về tố tụng: Việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký và việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn khi tham gia tố tụng đều đảm bảo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; riêng đối với bị đơn không chấp hành nghiêm quyền và nghĩa vụ của mình.

- Về nội dung vụ án: Chị Lục Thị N. và anh Trương Ngọc S. kết hôn vào năm 2011 trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã N, huyện S là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống vợ chồng bình thường, có phát sinh mâu thuẫn, hiện vợ chồng sống ly thân. Do vậy, căn cứ vào Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình, đề nghị HĐXX xử cho chị Lục Thị N. được ly hôn với anh Trương Ngọc S.; về con chung: giao cháu Trương Thị H., sinh ngày 05/3/2012 và Trương Thị Mỹ L., sinh ngày 02/4/2018 cho chị Lục Thị N. trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục theo quy định tại Điều 81, 82 luật Hôn nhân và gia đình; về tài sản, đất đai, công nợ chung: Các đương sự không có, không đề nghị giải quyết nên không đề cập xử lý.

Ngoài ra, đại diện Viện kiểm sát còn đề nghị HĐXX giải quyết về án phí và tuyên quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

. Về tố tụng và quan hệ pháp luật: Theo đơn khởi kiện chị Lục Thị N. đề nghị Tòa án nhân dân huyện Sơn Dương giải quyết cho chị được ly hôn với anh Trương Ngọc S. và giao nuôi con chung; không đề nghị giải quyết về tài sản, công nợ chung. Do vậy quan hệ pháp luật ở đây được xác định là “Ly hôn, giao nuôi con chung khi ly hôn”, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang theo quy định tại Điều 39 của Bộ luật Tố tụng Dân sự.

Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã triệu tập anh Trương Ngọc S. nhiều lần nhưng anh S. không đến làm việc, đây được xác định thuộc trường hợp bị đơn cố tình trốn tránh nghĩa vụ. Tại phiên tòa, nguyên đơn chị Lục Thị N. vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn anh Trương Ngọc S. vắng mặt không có lý do. Do vậy, Tòa án vẫn tiến hành giải quyết vụ án và xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn theo quy định tại Điều 28, 35, 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự

. Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:

2.1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Lục Thị N. và anh Trương Ngọc S. kết hôn với nhau trên cơ sở được tự do tìm hiểu, tự nguyện kết hôn, có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã N, huyện S, tỉnh Tuyên Quang vào ngày 18/02/2011 là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống hạnh phúc được thời gian ngắn sau phát sinh mâu thuẫn, vợ chồng hiện sống ly thân. Tháng 11/2022 chị N. có đơn khởi kiện đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Trương Ngọc S..

Như vậy, cuộc sống hôn nhân của chị Lục Thị N. và anh Trương Ngọc S. bình thường, có mâu thuẫn, vợ chồng hiện sống ly thân nên xác định hôn nhân của anh chị đã lâm vào tình trạng trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt. Căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình, có cơ sở chấp nhận đơn khởi kiện của nguyên đơn xử cho chị Lục Thị N. được ly hôn với anh Trương Ngọc S..

2.2. Về con chung: Chị Lục Thị N. và anh Trương Ngọc S. có 02 con chung là cháu Trương Thị H., sinh ngày 05/3/2012 và cháu Trương Thị Mỹ L., sinh ngày 02/4/2018.

Xét thấy, cháu Trương Thị H. và Trương Thị Mỹ L. là con chung của chị Lục Thị N. và anh Trương Ngọc S. nên anh chị đều cùng phải có nghĩa vụ và trách nhiệm đối với các cháu. Tuy nhiên, quá trình giải quyết chị N. có quan điểm nhận nuôi dưỡng, giáo dục các cháu, không yêu cầu anh S. cấp dưỡng, cháu Trương Thị H. có nguyện vọng được ở với mẹ, anh S. hiện không có mặt ở địa phương. Để đảm bảo quyền lợi mọi mặt của con chung và đảm bảo quyền lợi của các đương sự sau khi ly hôn, cần giao cháu Trương Thị H., sinh ngày 05/3/2012 và Trương Thị Mỹ L., sinh ngày 02/4/2018 cho chị Lục Thị N. trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục là hoàn toàn phù hợp với quy định tại Điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình. Anh Trương Ngọc S. không phải cấp dưỡng nuôi con (do chị N. không yêu cầu) và có quyền, nghĩa vụ đi lại thăm nom con chung mà không ai được cản trở

2.3. Về tài sản chung, vay nợ chung: Chị Lục Thị N. và anh Trương Ngọc S. không có, không đề nghị Tòa án giải quyết nên không xem xét.

. Về án phí: Chị Lục Thị N. phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng), được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo quy định pháp luật.

. Quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 28, 35, 39, 147, 228, 235, 266, 271, 273 - Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 56, 81, 82, 83 - Luật Hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Lục Thị N. được ly hôn với anh Trương Ngọc S..

2. Về con chung: Giao cháu Trương Thị H., sinh ngày 05/3/2012 và Trương Thị Mỹ L., sinh ngày 02/4/2018 cho chị Lục Thị N. trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục. Anh Trương Ngọc S. không phải cấp dưỡng nuôi con chung và có quyền, nghĩa vụ đi lại thăm nom con chung mà không ai được cản trở.

3. Về án phí: Chị Lục Thị N. phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng). Được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0002489 ngày 02 tháng 12 năm 2022 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Sơn Dương. Chị Lục Thị N. đã nộp đủ án phí của vụ án.

4. Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai.

Cỡ chữ