vanban.org

Bản án 23/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là chị Tẩn Xa X.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Tẩn Xa X được ly hôn với anh Phàn Tờ V. Về con chung: Giao cháu Phàn Thị Băng T, sinh ngày 12/8/2016 cho chị Tẩn Xa X trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi cháu đủ 18 tuổi. Anh Phàn Tờ V có nghĩa vụ tôn trọng quyền của con được sống với người trực tiếp nuôi và có quyền, nghĩa vụ … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Xuân, Vinh"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là chị Tẩn Xa X.
  • Căn cứ chính? Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN PHONG THỔ
TỈNH LAI CHÂU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 23/2023/HNGĐ-ST
Ngày 10 tháng 7 năm 2023
V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Đỗ Thị Hạnh.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lý Quang Minh;

Bà Thùng Thị Tâm.

- Thư ký phiên toà: Bà Lù Thị Xuân - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu tham gia phiên tòa: Ông Đào Mạnh Hân - Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 7 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu, xét xử công khai vụ án sơ thẩm thụ lý số: 37/2023/TLST - HNGĐ, ngày 10 tháng 02 năm 2023, về ly hôn, tranh chấp nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 25/2023/QĐXXST-HNGĐ, ngày 05 tháng 6 năm 2023, Quyết định hoãn phiên tòa số: 23/2023/QĐST-HNGĐ, ngày 22 tháng 6 năm 2023, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Tẩn Xa X, sinh năm: 2000.

Địa chỉ: Bản H, xã H, huyện P, tỉnh Lai Châu.

Có đơn xin xét xử vắng mặt.

Bị đơn: Anh Phàn Tờ V, sinh năm: 1997.

Địa chỉ: Bản H, xã K, huyện P, tỉnh Lai Châu.

Vắng mặt không có lý do.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn là chị Tẩn Xa X trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Tẩn Xa X và anh Phàn Tờ V kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, không ai bị ép buộc, lừa dối, có đăng ký kết hôn ngày 05/8/2019, tại Ủy ban nhân dân xã Khổng Lào, huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu. Vợ chồng chị X, anh V chung sống hạnh phúc được một thời gian đầu, sau đó thì thường phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do anh V không có trách nhiệm với vợ con, không quan tâm đến gia đình, vợ chồng bất đồng quan điểm sống, hay cãi chửi nhau. Chị X và hai bên gia đình đã khuyên bảo nhiều lần nhưng anh V không thay đổi. Từ tháng 02/2021, vợ chồng chị đã sống ly thân, chị X đã đưa các con về nhà bố mẹ đẻ ở tại bản Huổi Luông, xã Hoang Thèn. Hiện nay, chị X không còn tình cảm với anh V nữa nên chị X làm đơn yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh V.

Về con chung: Chị Tẩn Xa X và anh Phàn Tờ V có 01 con chung là cháu Phàn Thị Băng T, sinh ngày 12/8/2016. Hiện nay, cháu T đang ở với chị X. Chị X có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng cháu T cho đến khi cháu đủ 18 tuổi và không yêu cầu anh V phải cấp dưỡng nuôi con. Anh V có nghĩa vụ tôn trọng quyền của con được sống với người trực tiếp nuôi và có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.

Về tài sản chung: Chị X và anh V tự thỏa thuận về tài sản chung, không có nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Trong suốt quá trình giải quyết vụ án, bị đơn không có mặt theo giấy triệu tập của Tòa án. Tại phiên hòa giải, bị đơn vắng mặt nên vụ án không hòa giải được.

Kết quả xác minh của Tòa án tại Ủy ban nhân dân xã Khổng Lào, Công an xã Khổng Lào, Ủy ban nhân dân xã Hoang Thèn, huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu và xác minh tại gia đình bố, mẹ đẻ của anh V, bố mẹ đẻ của chị X, xác định: Vợ chồng chị X, anh V hiện đang có đăng ký hộ khẩu thường trú tại địa phương. Sau khi kết hôn, chị X, anh V chung sống hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn. Hiện nay, anh V đi làm xa nhưng anh V không nói cho ai biết địa chỉ. Anh V hiện không sinh sống tại địa phương, không khai báo tạm vắng, không ai biết anh V đang ở đâu. Anh V vẫn thường xuyên liên lạc với gia đình. Thỉnh thoảng, anh V có về thăm nhà. Anh V đã biết việc chị X xin ly hôn và nhất trí ly hôn với chị X, nhất trí để chị X nuôi con sau ly hôn. Anh V không có tranh chấp về tài sản, không có yêu cầu phản tố.

Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã ra thông báo phiên hòa giải nhưng tại phiên hòa giải, bị đơn vắng mặt nên không tiến hành hòa giải được. Tòa án đã tiến hành các thủ tục tống đạt, niêm yết văn bản tố tụng theo quy định pháp luật, anh V đã biết được việc Tòa án giải quyết vụ án nhưng trong suốt quá trình giải quyết vụ án, anh V không có mặt tại Tòa án để làm việc.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu tại phiên tòa:

Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa; của người tham gia tố tụng: Thẩm phán tiến hành thủ tục thụ lý vụ án, thu thập tài liệu, chứng cứ, chuẩn bị xét xử và quyết định đưa vụ án ra xét xử đảm bảo đúng quy định về thời hạn, nội dung, thẩm quyền theo Bộ luật Tố tụng dân sự. Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa thực hiện đúng trình tự, thủ tục đối với phiên tòa dân sự. Trong thời gian chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa nguyên đơn đã thực hiện đúng quyền nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn không có mặt theo giấy triệu tập của Tòa án, không có lý do vắng mặt, vi phạm Điều 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về việc giải quyết vụ án: Căn cứ khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, Điều 147, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 56, 57, 81, 82, 83 luật Hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận đơn khởi kiện của chị Tẩn Xa X, xử: Về quan hệ hôn nhân: Chị Tẩn Xa X được ly hôn với anh Phàn Tờ V. Về con chung: Giao cháu Phàn Thị Băng Tâm cho chị Tẩn Xa X trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi cháu Tâm đủ 18 tuổi, chị X không yêu cầu anh V cấp dưỡng nuôi con chung. Anh Phàn Tờ V có nghĩa vụ tôn trọng quyền của con được sống với người trực tiếp nuôi và có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Về cấp dưỡng nuôi con, tài sản chung, nợ chung: Đương sự không yêu cầu nên không xem xét giải quyết. Về án phí dân sự sơ thẩm, thực hiện theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên toà và căn cứ vào diễn biến phiên toà, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phong Thổ, Hội đồng xét xử xét thấy:

Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Chị Tẩn Xa X có đơn khởi kiện về việc ly hôn và tranh chấp nuôi con khi ly hôn giữa chị X và anh Phàn Tờ V. Anh V có địa chỉ nơi cư trú tại bản Ho Sao Chải, xã Khổng Lào, huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu nên đây là vụ án ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do nên vụ án được xét xử vắng mặt đương sự theo quy định tại Điều 228 và Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Tẩn Xa X và anh Phàn Tờ V là vợ chồng, có đăng ký kết hôn, là hôn nhân hợp pháp. Chị X và anh V sống hạnh phúc với nhau được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn, thường xuyên cãi vã, nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống. Chị X và gia đình hai bên đã khuyên bảo nhiều lần nhưng không có kết quả. Hiện nay, chị X không còn tình cảm với anh V nữa. Giữa chị X và anh V không còn có sự quan tâm, chia sẻ, chăm sóc, yêu thương nhau, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã thông báo phiên hòa giải nhưng anh V vắng mặt tại phiên hòa giải nên không tiến hành hòa giải được. Vì vậy, Hội đồng xét xử xét thấy cần chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị X, giải quyết cho chị X được ly hôn với anh V theo quy định tại khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình.

Về con chung: Từ khi vợ chồng chị X, anh V sống ly thân, cháu T sống cùng với mẹ, được mẹ quan tâm, chăm sóc. Hiện nay, chị X có đủ điều kiện để nuôi dưỡng, chăm sóc chán T và có nguyện vọng được nuôi dưỡng cháu T. Qua xác minh tại gia đình bố, mẹ đẻ của anh V thì anh V cũng nhất trí để chị X nuôi dưỡng cháu T. Vì vậy, để đảm bảo các điều kiện tốt nhất cho sự phát triển của trẻ, Hội đồng xét xử xét thấy cần giao cháu Tâm cho chị X là người trực tiếp nuôi cho đến khi cháu đủ 18 tuổi. Anh V có nghĩa vụ tôn trọng quyền của con được sống chung với chị X là người trực tiếp nuôi và có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con, chị X không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung nên Hội đồng xét xử không xem xét. Về tài sản, chị X và anh V không có tài sản chung, không có nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phong Thổ tham gia phiên tòa về việc giải quyết vụ án đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Nguyên đơn là người dân tộc thiểu số, sống ở xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn nên thuộc trường hợp được miễn nộp tiền án phí dân sự sơ thẩm. Bị đơn không phải nộp tiền án phí.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, các Điều 147, 228, 238, 266, 271, 273, của Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 56, 57, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án,

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là chị Tẩn Xa X.

- Về quan hệ hôn nhân: Chị Tẩn Xa X được ly hôn với anh Phàn Tờ V.

- Về con chung: Giao cháu Phàn Thị Băng T, sinh ngày 12/8/2016 cho chị Tẩn Xa X trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi cháu đủ 18 tuổi. Anh Phàn Tờ V có nghĩa vụ tôn trọng quyền của con được sống với người trực tiếp nuôi và có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

- Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung: Chị Tẩn Xa X không yêu cầu anh Phàn Tờ V cấp dưỡng nuôi con chung.

- Về tài sản: Chị Tẩn Xa X và anh Phàn Tờ V không có tài sản chung, không có nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

2. Nghĩa vụ chịu án phí dân sự sơ thẩm: Nguyên đơn được miễn nộp tiền án phí dân sự sơ thẩm.

3. Quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cao trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật./.

Cỡ chữ