- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bà Dương Thị Đ ly hôn ông Trần Văn L"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Bà Dương Thị Đ được ly hôn với ông Trần Văn L.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 266 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KRÔNG PẮC TỈNH ĐẮK LẮK | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 23/2023/HNGĐ-ST Ngày 21 - 4 - 2023 V/v ly hôn. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KRÔNG PẮC, TỈNH ĐẮK LẮK
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Đình Nam
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Hải, bà Trịnh Thị Oanh.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nông Thị Lường – Là Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân huyện Krông Pắc, tỉnh Đắk Lắk.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Pắc, tỉnh Đắk Lắk tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thùy Nguyên – Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 4 năm 2023 tại hội trường Tòa án nhân dân huyện Krông Pắc xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 55/2023/TLST-HNGĐ ngày 17 tháng 02 năm 2023 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 16/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 24 tháng 3 năm 2023, và quyết định hoãn phiên tòa ngày 11/4/2023 giữa:
1. Nguyên đơn: Bà Dương Thị Đ, sinh năm 1976 (Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt).
Địa chỉ: Xã V, huyện K, tỉnh Đắk Lắk.
2. Bị đơn: Ông Trần Văn L, sinh năm 1971 (Vắng mặt).
Địa chỉ: Xã V, huyện K, tỉnh Đắk Lắk.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Tại đơn khởi kiện, quá trình tham gia tố tụng nguyên đơn bà Dương Thị Đ trình bày: Bà Đ và ông Trần Văn L tự nguyện chung sống với nhau từ năm 1994 và tự nguyện đăng ký kết hôn với nhau vào ngày 05/4/2004 tại UBND xã V, huyện K, tỉnh Đắk Lắk.
Quá trình chung sống vợ chồng hạnh phúc được một thời gian thì xảy ra mâu thuẫn. Mâu thuẫn cứ kéo dài nhưng nghiêm trọng nhất nhất là khoảng tháng 5/2022 thì vợ chồng hay xảy ra cãi vã, tính tình không hợp, ông L thường xuyên đánh vợ con, bà Đ đã cố gắng kìm chế, hòa giải để hàn gắn gia đình nhưng vẫn không thành. Cuộc sống vợ chồng trở nên ngột ngạt, vợ chồng sống ly thân từ tháng 5/2022 cho đến nay không ai quan tâm đến ai. Nay xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, bà Đ làm đơn này đề nghị Tòa án xem xét giải quyết cho ly hôn với ông Trần Văn L.
Về con chung: Có 04 con chung gồm: cháu Trần Thị Bích N, sinh ngày 03/5/1997; cháu Trần Thị H, sinh ngày 29/6/2000; cháu Trần Thị Đ1, sinh ngày 07/01/2001 và cháu Trần Văn C, sinh ngày 05/9/2003. Hiện nay các con chung đã trên 18 tuổi, tự nuôi sống được bản thân nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung, nợ chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Bị đơn ông Trần Văn L: Trong quá trình giải quyết vụ án đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng cố tình vắng mặt không tham gia tố tụng nên Tòa án không ghi được lời khai.
Qua biên bản xác minh về tình trạng hôn nhân thì Chính quyền địa phương cho biết: Vợ chồng bà Đ, ông L thường xuyên xảy ra đánh nhau. Ban tự quản thôn đã nhiều lần tới can thiệp, hòa giải nhưng không cải thiện. Về nguyên nhân mâu thuẫn thì chính quyền địa phương không nắm được.
* Ý kiến của Kiểm sát viên:
- Về tố tụng: Thẩm phán xác định đúng quan hệ pháp luật, thẩm quyền giải quyết vụ án; xác định đúng tư cách tham gia tố tụng của các đương sự; việc thu thập chứng cứ, trình tự giải quyết vụ án theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự (BLTTDS).
Trong quá trình thụ lý, giải quyết, xét xử vụ án thì Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và nguyên đơn đã chấp hành đúng các quy định của pháp luật. Bị đơn không chấp hành đúng các quy định của pháp luật.
- Về nội dung: Qua các tài liệu, chứng cứ thu thập trong hồ sơ vụ án, đề nghị HĐXX căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Về hôn nhân: Cho bà Dương Thị Đ được ly hôn với ông Trần Văn L. Về con chung: các con chung đã trên 18 tuổi, tự nuôi sống bản thân, các đương sự không yêu cầu nên không đặt ra xem xét, giải quyết. Về tài sản chung, nợ chung: Đương sự không yêu cầu nên không đặt ra xem xét giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử (HĐXX) nhận định:
Về tố tụng và quan hệ pháp luật cần giải quyết: Bà Dương Thị Đ khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với ông Trần Văn L có nơi cư trú tại xã V, huyện K, tỉnh Đắk Lắk. Quan hệ pháp luật cần giải quyết là Ly hôn theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự. Vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Krông Pắc theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Nguyên đơn bà Dương Thị Đ có đơn xin xét xử vắng mặt; bị đơn ông Trần Văn L mặc dù Tòa án đã triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt tại phiên tòa không có lý do. Căn cứ vào khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự, HĐXX tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn.
Về nội dung:
Về hôn nhân: Bà Dương Thị Đ với ông Trần Văn L tự nguyện đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã V, huyện K, tỉnh Đắk Lắk vào ngày 05/4/2004. Hôn nhân của ông bà là hợp pháp, được pháp luật bảo vệ.
Về nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng: Theo kết quả xác minh tại chính quyền địa phương, cũng như quá trình tham gia tố tụng bà Đ trình bày: Trong quá trình chung sống vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn cãi vã, vợ chồng tính tình không hợp, ông L thường xuyên đánh vợ con, bà Đ đã cố gắng kìm chế, hòa giải để hàn gắn gia đình nhưng vẫn không thành. Cuộc sống vợ chồng trở nên ngột ngạt, vợ chồng sống ly thân từ tháng 5/2022 cho đến nay không ai quan tâm đến ai. Tòa án đã cho bà Đ có thời gian suy nghĩ chuyện tình cảm vợ chồng, nhưng bà Đ cho rằng mâu thuẫn vợ chồng không có hướng khắc phục, tình cảm vợ chồng không còn nên bà Đ giữ nguyên yêu cầu xin được ly hôn. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án triệu tập lên ghi nhận lời khai và hòa giải nhưng ông L trốn tránh không lên Tòa án làm việc. Như vậy, HĐXX xác định quan hệ vợ chồng giữa bà Đ và ông L đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình, HĐXX cần giải quyết cho bà Đ được ly hôn với ông L.
Về con chung gồm: cháu Trần Thị Bích N, sinh ngày 03/5/1997; cháu Trần Thị H, sinh ngày 29/6/2000; cháu Trần Thị Đ1, sinh ngày 07/01/2001 và cháu Trần Văn C, sinh ngày 05/9/2003. Hiện nay các con chung đã trên 18 tuổi, tự nuôi sống được bản thân nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Do đó, HĐXX không xem xét giải quyết.
Về tài sản chung, nợ chung: Bà Đ không yêu cầu giải quyết nên HĐXX không xem xét giải quyết.
Về án phí: Bà Dương Thị Đ phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.
Xét quan điểm và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Pắc, tỉnh Đắk Lắk tại phiên tòa là có căn cứ và đúng pháp luật nên Hội đồng xét xử cần chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 227, Điều 266, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
- Căn cứ khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội.
Tuyên xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Dương Thị Đ được ly hôn với ông Trần Văn L.
2. Về con chung gồm: cháu Trần Thị Bích N, sinh ngày 03/5/1997; cháu Trần Thị H, sinh ngày 29/6/2000; cháu Trần Thị Đ1, sinh ngày 07/01/2001 và cháu Trần Văn C, sinh ngày 05/9/2003. Hiện nay các con chung đã trên 18 tuổi, tự nuôi sống được bản thân nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
3. Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết.
4. Về án phí: Bà Dương Thị Đ phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) đã nộp theo biên lai số AA/2021/0016815 ngày 17/02/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Krông Pắc, tỉnh Đắk Lắk.
5. Thông báo quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Đắk Lắk; - VKSND huyện Krông Pắc; - Chi cục THADS huyện K; - Các đương sự; - Cổng thông tin điện tử Tòa án (nếu có); - UBND xã V, huyện K; - Lưu hồ sơ. | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Vũ Đình Nam |