vanban.org

Bản án 23/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Hoãn phiên toà xét xử sơ thẩm vụ án dân sự thụ lý số 421/2022/TLST-

Thời gian, địa điểm mở lại phiên toà xét xử vụ án được ấn định như sau: Thời gian mở lại phiên toà vào hồi 8 giờ 00’ ngày 16 tháng 3 năm 2023; Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn giữa chị L và anh Tr"
  • Tòa quyết gì? Hoãn phiên toà xét xử sơ thẩm vụ án dân sự thụ lý số 421/2022/TLST-
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tại phiên tòa hôm
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN HƢNG HÀ
TỈNH THÁI BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 23/2023/HNGĐ-ST
Ngày 16-3-2023
V/v Ly hôn giữa
chị L và anh Tr.

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HƢNG HÀ, TỈNH THÁI BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Trần Thị Nhàn.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Đinh Trọng Thanh

2. Bà Phạm Thị Huệ

- Thư ký phiên tòa: Ông Lương Văn Tuấn - Thư ký Tòa án nhân dân huyện H, tỉnh Thái Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện H tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Giang - Kiểm sát viên.

Ngày 16-3-2023, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện H, tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 421/2022/TLST-HNGĐ ngày 20-12-2022 về việc “Ly hôn, nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 16/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 13-02-2023; Quyết định hoãn phiên tòa số: 08/2023/HNGĐ - QĐ ngày 28 tháng 02 năm 2023 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Phạm Thùy L, sinh năm 1997.

Bị đơn: Anh Nguyễn Văn Tr, sinh năm 1992 (vắng mặt).

Đều ở địa chỉ: thôn X, xã H, huyện H, tỉnh Thái Bình. (chị L có đơn xin xử vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai nguyên đơn chị Phạm Thùy L trình bày: Chị kết hôn với anh Tr là do hai bên tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại trụ sở UBND xã H vào ngày 26/11/2018. Sau khi kết hôn vợ chồng sống hòa thuận đến đầu năm 2021 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân chủ yếu là do vợ chồng tính tình không hợp, vợ chồng thường xuyên cãi cọ nhau, vợ chồng mâu thuẫn căng thẳng, tháng 8/2022 chị đã xin ly hôn anh Tr, được Tòa án hòa giải, vì thương con chị đã rút đơn để vợ chồng đoàn tụ. Nhưng từ khi chị rút đơn vợ chồng không về đoàn tụ với nhau, vợ chồng sống ly thân nhau từ tháng 9/2022 đến nay. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh Tr. Về nuôi con chung: Vợ chồng có 01 con chung là Nguyễn Phạm Triệu V, sinh ngày 24/3/2021, hiện đang do chị nuôi dưỡng. Khi ly hôn chị xin được trực tiếp nuôi con, chị xin nuôi con hoàn toàn, không yêu cầu anh Tr cấp dưỡng nuôi con. Về chia tài sản chung: không có, chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Biên bản làm việc ngày 18/01/2023 tại Ủy ban nhân dân xã H:

Anh Nguyễn Văn Tr là bị đơn trong vụ án ly hôn giữa chị Phạm Thùy L và anh Tr đều ở cùng thôn X, xã H. Anh Tr từ chối làm việc với Tòa án, không nhận các tài liệu của Tòa án giao cho, anh Tr có nói việc chị L ly hôn anh thì Tòa án cứ giải quyết, Tòa án làm việc với chị L, anh buông xuôi không có ý kiến gì, anh không cho Tòa án đến nhà anh, tìm anh nữa; Bố mẹ đẻ anh Tr cũng từ chối không làm việc với Tòa án có sự chứng kiến của ông Đỗ Xuân Quảng-Trưởng thôn X, xã H, huyện H.

Biên bản xác minh ngày 27/02/2023 ông Đỗ Xuân Quảng-Trưởng thôn X, xã H, huyện H cung cấp: Anh Tr, chị L kết hôn với nhau khoảng tháng 11/2018, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã H. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống cùng bố mẹ anh Tr ở tại thôn X, xã H được khoảng 03 năm thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn cụ thể thế nào thì ông không biết rõ, chị L đã đưa con về nhà bố mẹ đẻ ở khoảng hơn một năm nay, việc chị L ly hôn anh Tr ông đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa, trước khi Hội đồng xét xử nghị án, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện H phát biểu ý kiến: Trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã tiến hành thụ lý, thu thập chứng cứ và xét xử vụ án theo đúng thẩm quyền, đúng trình tự thủ tục tố tụng mà pháp luật quy định, nguyên đơn chị L đã chấp hành đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự; anh Tr không chấp hành các quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Về giải quyết vụ án: Căn cứ Điều 147, khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 và Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình, đề nghị Hội đồng xét xử xử cho ly hôn giữa chị L và anh Tr. Về nuôi con chung: Giao cho chị L trực tiếp nuôi con Nguyễn Phạm Triệu V, sinh ngày 24/3/2021, anh Tr không phải cấp dưỡng nuôi con, anh Tr được quyền thăm nom chăm sóc con chung. Về chia tài sản chung: chưa giải quyết. Về án phí: chị L phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa. Tòa án nhân dân huyện H nhận định:

Về tố tụng: Chị L khởi kiện yêu cầu được ly hôn anh Tr trú tại thôn X, xã H, huyện H. Căn cứ khoản 1 Điều 28; khoản 1 Điều 35 và điểm b khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của TAND huyện H, tỉnh Thái Bình. Anh Tr không đến Tòa án làm việc, không làm việc với Tòa án; vì vậy Tòa án không tiến hành hòa giải vụ án được và niêm yết các tài liệu giải quyết vụ án theo thủ tục chung. Chị L có đơn xin xử vắng mặt, Tòa án mở phiên tòa xét xử vụ án theo quy định tại khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về hôn nhân: Chị L, anh Tr kết hôn tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã H vào ngày 26/11/2018, đây là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn vợ chồng sống hòa thuận được 03 năm thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân chủ yếu là do vợ chồng tính tình không hợp, vợ chồng thường xuyên cãi cọ nhau, vợ chồng mâu thuẫn căng thẳng và sống ly thân từ tháng 9/2022 đến nay. Chị L xác định tình cảm vợ chồng không còn, đề nghị Tòa án giải quyết cho chị L được ly hôn anh Tr. Anh Tr từ chối làm việc với Tòa án, tuy nhiên tại biên bản xác minh ngày 27/02/2023 ông Đỗ Xuân Quảng-Trưởng thôn X, xã H, huyện H xác định vợ chồng chị L, anh Tr không chung sống với nhau nữa, chị L đã đưa con nhà bố mẹ đẻ ở khoảng hơn một năm nay. Hội đồng xét xử xét thấy mâu thuẫn vợ chồng đã căng thẳng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được, vì vậy cần xử cho ly hôn giữa chị L và anh Tr là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình.

Về nuôi con chung: Chị L và anh Tr có 01 con chung là Nguyễn Phạm Triệu V, sinh ngày 24/3/2021. Từ khi vợ chồng ly thân nhau con chung do chị L trực tiếp nuôi dưỡng. Khi ly hôn chị L xin trực tiếp nuôi con hoàn toàn, chị không yêu cầu anh Tr cấp dưỡng nuôi con. HĐXX xét thấy đây là sự tự nguyện của chị L phù hợp với quy định của pháp luật, cần chấp nhận.

Về chia tài sản chung: Chị L không yêu cầu Tòa án giải quyết; anh Tr từ chối không làm việc với Tòa án nên Tòa án chưa xem xét giải quyết. Các bên có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết chia tài sản chung của vợ chồng bằng vụ kiện dân sự khác (nếu có).

Về án phí: Chị L phải chịu tiền án phí ly hôn sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 147, khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 và Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình. Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Phạm Thùy L và anh Nguyễn Văn Tr.

2. Về nuôi con chung: Giao cho chị L trực tiếp nuôi con Nguyễn Phạm Triệu V, sinh ngày 24/3/2021, anh Tr không phải cấp dưỡng nuôi con. Anh Tr có quyền thăm nom con chung mà không ai được cản trở.

3. Về chia tài sản chung: Không xem xét giải quyết.

4. Về án phí: Chị L phải chịu 300.000 đồng tiền án phí ly hôn sơ thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng chị L đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí số 0005961 ngày 20-12-2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện H, tỉnh Thái Bình (chị L đã nộp đủ tiền án phí).

5. Về quyền kháng cáo: Chị L, anh Tr vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà

Cỡ chữ