- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Lê Văn D và Lê Thị L"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Anh Lê Văn D được ly hôn chị Lê Thị L.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẢI LĂNG TỈNH QUẢNG TRỊ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số 23/2023/HNGĐ- ST Ngày 20/9/2023 “V/v ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẢI LĂNG, TỈNH QUẢNG TRỊ
-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lê Thanh Khánh.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Lê Thị Liền
- Ông Nguyễn Minh Tuấn.
Thư ký phiên toà: Ông Trần Ánh Phương, Thư ký toà án nhân dân huyện H, tỉnh Quảng Trị.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện H, tỉnh Quảng Trị tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Thuỳ Dương - Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 9 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện H, tỉnh Quảng Trị tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án ly hôn và gia đình thụ lý số:70/2023/TLST- HNGĐ ngày 23 tháng 6 năm 2023 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số:19/2023/QĐXX-ST ngày 14 tháng 8 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số:15/2023/QĐST-HNGĐ ngày 30 tháng 8 năm 2023, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Anh Lê Văn D, sinh năm 1984; địa chỉ: Thôn Qu, xã H, huyện H, tỉnh Quảng Trị, vắng mặt và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
Bị đơn: Chị Lê Thị L, sinh năm 1988; địa chỉ: Thôn V, xã H, huyện H, tỉnh Quảng Trị, vắng mặt không có lý do.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện đề ngày 15/6/2023 và quá trình tham gia tố tụng, anh Lê Văn D trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Anh và chị Lê Thị L kết hôn trên cơ sở tự nguyện vào ngày 10/01/2013 tại UBND xã H, huyện H, tỉnh Quảng Trị. Sau khi kết hôn, do không có được tiếng nói chung nên vợ chồng thường hay xảy ra cải vã lẫn nhau. Chị Lê Thị L bỏ nhà đi từ ngày 04/01/2021 và vợ chồng cắt đứt liên lạc từ đó đến nay. Hiện nay chị L đi đâu, làm gì anh D không biết. Anh D xác định không còn tình cảm với chị L nên yêu cầu Toà án giải quyết cho anh được ly hôn.
- Về con chung: Không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt đầy đủ và hợp lệ tất cả các văn bản tố tụng cho chị Lê Thị L. Ngày 27/6/2023, Tòa án nhân dân huyện H đã ban hành thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú đối với chị Lê Thị L và đã đăng trên các phương tiện thông tin đại chúng theo đúng quy định của pháp luật nhưng đến nay chị Lê Thị L vẫn không đến Toà án làm việc và cũng không nộp cho Toà án bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu của nguyên đơn.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện H, tỉnh Quảng Trị phát biểu ý kiến:
Về thủ tục tố tụng: Trong thời gian chuẩn bị xét xử, Thẩm phán đã thực hiện đúng, đầy đủ các quy định tại các Điều 28, 35, 39, 97, 177, 195, 196, 203, 220, 233 của Bộ luật tố tụng dân sự. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử và Thư ký đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về việc xét xử sơ thẩm vụ án.
Nguyên đơn anh Lê Văn D đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ được quy định tại các Điều 70, 71 của Bộ luật tố tụng dân sự và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Bị đơn chị Lê Thị L chưa thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ được quy định tại Điều 70, 72 của Bộ luật tố tụng dân sự, Toà án đã tống đạt hợp lệ tất cả các văn bản tố tụng nhưng chị L vẫn vắng mặt tại phiên toà lần thứ hai không có lý do. Vì vậy, căn cứ vào điểm a, b khoản 2 Điều 227 và khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, đề nghị Hội đồng xét xử tiếp tục xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn.
Về hướng giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội:
- Về quan hệ hôn nhân: Cho anh Lê Văn D được ly hôn với chị Lê Thị L.
- Về con chung: Không có nên không xem xét giải quyết.
- Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu giải quyết nên không xem xét giải quyết.
- Về án phí: Anh Lê Văn D phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
. Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Anh Lê Văn D yêu cầu được ly hôn với chị Lê Thị L, chị Lê Thị L có nơi cư trú tại: Thôn V, xã H, huyện H, tỉnh Quảng Trị và vụ án không có yếu tố nước ngoài. Do đó, căn cứ vào khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử xác định quan hệ tranh chấp là “Ly hôn” và vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện H, tỉnh Quảng Trị.
. Về thủ tục tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt đầy đủ và hợp lệ tất cả các văn bản tố tụng cho nguyên đơn và bị đơn. Chị Lê Thị L không có ý kiến phản hồi và không đến Toà án tham gia tố tụng, đồng thời vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai không có lý do. Anh Lê Văn D có đơn đề nghị xét xử vắng. Vì vậy, áp dụng điểm a, b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt anh Lê Văn D và chị Lê Thị L.
. Về quan hệ hôn nhân: Anh Lê Văn D và chị Lê Thị L kết hôn trên cơ sở tự nguyện tại UBND xã H, huyện H, tỉnh Quảng Trị vào ngày 10/01/2013. Do đó, quan hệ hôn nhân giữa anh Lê Văn D và chị Lê Thị L là hợp pháp.
. Về yêu cầu ly hôn: Hội đồng xét xử thấy rằng, trong quá trình chung sống giữa anh Lê Văn D và chị Lê Thị L xảy ra nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân là do bất đồng quan điểm nên không có tiếng nói chung dẫn đến vợ chồng không còn tình cảm và thương yêu lẫn nhau.
Tại biên bản xác minh ngày 26/6/2023, Hội liên hiệp phụ nữ xã H cho biết: Trong quá trình chung sống, giữa anh D và chị L thường xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân là do tính tình không hợp nhau, anh D và chị L đã sống ly thân từ năm 2021 và không quan tâm gì đến nhau.
Tòa án đã tống đạt tất cả các văn bản tố tụng theo quy định của pháp luật nhưng chị Liên không đến Tòa án làm việc và không có văn bản thể hiện ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của anh D, điều đó cho thấy chị L không có thiện chí và không mong muốn việc hàn gắn tình cảm với anh D.
Vì vậy, Hội đồng xét xử thấy rằng, mâu thuẫn vợ chồng giữa anh D và chị L đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được nên yêu cầu ly hôn của anh Lê Văn D là có căn cứ và cần được chấp nhận.
. Về con chung: Không có nên không xem xét giải quyết.
. Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu giải quyết nên không xem xét giải quyết.
. Về án phí: Anh Lê Văn D phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 56, Điều 57 Luật hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, điểm a, b khoản 2 Điều 227, Điều 228 và Điều 271 Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBNTQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.
Tuyên xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Anh Lê Văn D được ly hôn chị Lê Thị L.
2. Về án phí: Anh Lê Văn D phải chịu 300.000đồng án phí dân sự sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000đồng theo biên lai thu tiền số 0000372 ngày 23/6/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện H. Anh Lê Văn D đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.
3. Về quyền kháng cáo: Anh Lê Văn D và chị Lê Thị L có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ./.
| Nơi nhận: - Tòa án tỉnh Quảng Trị; - VKS huyện H; - THADS huyện H; - UBND xã H; - Các đương sự; - Lưu hồ vụ án; - Lưu: Tổ HCTP. ngày kể từ ngày tuyên án. Anh Nguyễn Văn Dinh có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết./. CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN Nguyễn Dư Chánh- Phan Thị Huệ | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà Lê Thanh Khánh Chị Nguyễn Thị Hiệp có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Đức Hoan |