vanban.org

Bản án 23/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Thạch Thị T.

Về hôn nhân: tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng giữa bà Thạch Thị T và ông Nguyễn Văn H. Về con chung: con chung của bà T và ông H là Nguyễn Văn B, sinh ngày 01/01/1991, Nguyễn Văn N, sinh ngày 15/01/1995 và Nguyễn Văn Đ, sinh ngày 30/4/2000. Hiện nay Nguyễn Văn B, Nguyễn Văn N và Nguyễn Văn … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp về hôn nhân và gia đình"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Thạch Thị T.
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 144 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CÙ LAO DUNG
TỈNH SÓC TRĂNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 23/2023/HNGĐ-ST
Ngày 31-5-2023
V/v “Tranh chấp về hôn nhân
và gia đình”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÙ LAO DUNG, TỈNH SÓC TRĂNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phan Thị Ngoan.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Văn Giáp.

Ông Nguyễn Thành Tâm.

Thư ký phiên tòa: Ông Tô Văn Thừa – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Cù Lao Dung, tỉnh Sóc Trăng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cù Lao Dung, tỉnh Sóc Trăng tham gia phiên tòa: Ông Đỗ Minh Hiền - Kiểm sát viên.

Trong ngày 31 tháng 5 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cù Lao Dung, tỉnh Sóc Trăng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 32/2023/TLST-HNGĐ ngày 16 tháng 02 năm 2023 về việc “Tranh chấp về hôn nhân và gia đình” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 22/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 24 tháng 4 năm 2023 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Thạch Thị T, sinh năm 1972, nơi cư trú: Ấp A, xã A, huyện C, tỉnh Sóc Trăng (vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).

- Bị đơn: Ông Nguyễn Văn H, sinh năm 1963; nơi cư trú: Ấp A, xã A, huyện C, tỉnh Sóc Trăng (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Theo nội dung đơn khởi kiện ngày 30 tháng 12 năm 2022 và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn bà Thạch Thị T trình bày:

Về hôn nhân: vào tháng 12/1990 bà Thạch Thị T và ông Nguyễn Văn H tự nguyện tổ chức lễ cưới theo phong tục địa phương, không đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật. Sau khi đám cưới bà T và ông H chung sống với nhau như vợ chồng hạnh phúc, đến tháng 6/2020 thì phát sinh mâu thuẫn và sống ly thân từ tháng 6/2020 cho đến. Nay bà T xét thấy tình cảm vợ chồng giữa bà và ông H không còn, nên bà T yêu cầu Tòa án tuyên bố giữa bà và ông H không phải là vợ chồng; về con chung: trong thời gian chung sống bà T và ông H có ba con chung là Nguyễn Văn B, sinh ngày 01/01/1991, Nguyễn Văn N, sinh ngày 15/01/1995 và Nguyễn Văn Đ, sinh ngày 30/4/2000. Hiện nay các con chung của bà T và ông H đều đã thành niên, không có bệnh tật gì, có khả năng lao động tự nuôi bản thân, bà T không yêu cầu về con chung; về tài sản chung và nợ chung: trong thời gian chung sống bà T và ông H có tài sản chung, có nợ chung, nhưng tự thỏa thuận, bà T không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Nguyên đơn đã nộp cho Tòa án các tài liệu, chứng cứ: Giấy khai sinh số 225/2022 họ và tên Nguyễn Văn B, sinh ngày 01/01/1991, họ và tên cha Thạch Thị T, sinh năm 1972, họ và tên cha Nguyễn Văn H, sinh năm 1963, đăng ký khai sinh tại Ủy ban nhân dân xã A, huyện C, tỉnh Sóc Trăng vào ngày 28/3/2022 (bản sao); Giấy khai sinh số 68/2022 họ và tên Nguyễn Văn N, sinh ngày 15/01/1995, họ và tên cha Thạch Thị T, sinh năm 1972, họ và tên cha Nguyễn Văn H, sinh năm 1963, đăng ký khai sinh tại Ủy ban nhân dân xã A, huyện C, tỉnh Sóc Trăng vào ngày 10/9/2003 (bản sao); Giấy khai sinh số 846, họ và tên Nguyễn Văn Đ, sinh ngày 30/4/2000, họ và tên cha Thạch Thị T, sinh năm 1972, họ và tên cha Nguyễn Văn H, sinh năm 1963, đăng ký khai sinh tại Ủy ban nhân dân xã A, huyện C, tỉnh Sóc Trăng vào ngày 17/9/2007 (bản sao). Các tài liệu, chứng cứ nguyên đơn đã nộp được cơ quan có thẩm quyền cấp nên hợp pháp, đây là các tình tiết sự kiện không phải chứng minh phù hợp quy định tại khoản 1 Điều 92 Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Bị đơn ông Nguyễn Văn H đã được Tòa án tống đạt hợp lệ: thông báo về việc thụ lý vụ án, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên tòa và giấy triệu tập tham gia phiên tòa đến hai lần mà vẫn vắng mặt không có lý do, ông H không gửi văn bản nêu ý kiến đối với các yêu cầu của nguyên đơn cho Tòa án. Tại phiên tòa ông H vắng mặt, nên không có ý kiến trình bày.

- Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cù Lao Dung, tỉnh Sóc Trăng tại phiên tòa:

Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký và nguyên đơn trong quá trình giải quyết vụ án: kể từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử vào nghị án đã chấp hành đúng các quy định của pháp luật về tố tụng dân sự. Riêng đối với bị đơn chưa thực hiện đúng nghĩa vụ theo quy định tại Điều 70 và Điều 71 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về việc giải quyết vụ án: đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, về hôn nhân: tuyên bố bà T và ông H không phải vợ chồng; về con chung: các con chung của bà T và ông H đều đã thành niên, bà T không yêu cầu, không xem xét, giải quyết; về tài sản chung và nợ chung: Bà T không yêu cầu, đề nghị không xem xét; buộc nguyên đơn chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Thẩm quyền giải quyết vụ án: bị đơn cư trú tại ấp A, xã A, huyện C, tỉnh Sóc Trăng, nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Cù Lao Dung, tỉnh Sóc Trăng theo khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Quan hệ tranh chấp: nguyên đơn bà T yêu cầu Tòa án giải quyết tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng, nên Hội đồng xét xử xác định “Tranh chấp về hôn nhân và gia đình” là phù hợp theo quy định tại khoản 8 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về sự vắng mặt của đương sự: nguyên đơn bà Thạch Thị T vắng mặt có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, bị đơn ông Nguyễn Văn H đã được Tòa án triệu tập hợp lệ để tham gia phiên tòa xét xử sơ thẩm đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt không có lý do. Căn cứ vào khoản 2 Điều 227, khoản 1 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án.

Xét yêu cầu về hôn nhân của bà T. Bà T và ông H chung sống với nhau và có tổ chức lễ cưới theo phong tục địa phương vào tháng 12/1990, trên tinh thần tự nguyện của ông bà. Trong thời gian chung sống do vợ chồng bất đồng ý kiến trong cuộc sống, nên đời sống hôn nhân không còn hạnh phúc, đến tháng 6/2020 thì ông bà không sống chung cho đến nay. Xét bà T và ông H đã chung sống với nhau như vợ chồng từ năm 1990, có đủ điều kiện kết hôn, nhưng ông bà không đăng ký kết hôn theo quy định tại Điều 8 và khoản 1 Điều 9 của Luật hôn nhân và gia đình, nên quan hệ của ông bà không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ giữa vợ chồng; bà T không muốn hàn gắn để chung sống với ông H. Do đó, yêu cầu của bà T là có căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 14, khoản 2 Điều 53 của Luật Hôn nhân và gia đình, nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về con chung: Bà T và ông H có ba con chung là Nguyễn Văn B, sinh ngày 01/01/1991, Nguyễn Văn N, sinh ngày 15/01/1995 và Nguyễn Văn Đ, sinh ngày 30/4/2000. Hiện nay Nguyễn Văn B, Nguyễn Văn N và Nguyễn Văn Đ đều đã thành niên không bị mất năng lực hành vi dân sự, có khả năng lao động để tự nuôi bản thân, bà T không yêu cầu Tòa án giải quyết, ông H không gửi ý kiến về con chung, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

Về tài sản chung và nợ chung: Bà T không yêu cầu giải quyết tài sản chung và nợ chung, ông H không gửi ý kiến gì về việc giải quyết tài sản chung và nợ chung, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Như đã phân tích ở trên đề nghị của Kiểm sát viên là có căn cứ được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Án phí dân sự sơ thẩm: Bà T phải chịu án phí theo Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 92, Điều 144, Điều 147, khoản 2 Điều 227, khoản 1, khoản 3 Điều 228, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 8, khoản 1 Điều 9, khoản 1 Điều 14, khoản 2 Điều 53 của Luật hôn nhân và gia đình; khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016.

Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Thạch Thị T.

1. Về hôn nhân: tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng giữa bà Thạch Thị T và ông Nguyễn Văn H.

2. Về con chung: con chung của bà T và ông H là Nguyễn Văn B, sinh ngày 01/01/1991, Nguyễn Văn N, sinh ngày 15/01/1995 và Nguyễn Văn Đ, sinh ngày 30/4/2000. Hiện nay Nguyễn Văn B, Nguyễn Văn N và Nguyễn Văn Đ đều đã thành niên không bị mất năng lực hành vi dân sự, có khả năng lao động để tự nuôi bản thân, bà T không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên không xem xét.

3. Về tài sản chung và nợ chung: Bà T không yêu cầu, nên không xem xét.

4. Án phí dân sự sơ thẩm: Ông H không phải chịu án phí; bà T phải chịu 300.000 (ba trăm ngàn) đồng án phí hôn nhân và gia đình, nhưng bà T được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 (ba trăm ngàn) đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0005079 ngày 10 tháng 02 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cù Lao Dung, tỉnh Sóc Trăng, bà T đã nộp đủ tiền án phí dân sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: các đương sự đều mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.

Cỡ chữ