vanban.org

Bản án 23/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Châu Thị Ngọc D

Về quan hệ hôn nhân: Cho ly hôn giữa bà Châu Thị Ngọc D và ông Trần Quốc H. Về nuôi con chung: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyên đơn Châu Thị Ngọc D và bị đơn Trần Quốc H"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Châu Thị Ngọc D
  • Căn cứ chính? Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 82 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 107 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CHÂU THÀNH
TỈNH SÓC TRĂNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 23/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 08 - 5 - 2023
V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH SÓC TRĂNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Huệ

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Lâm Ngọc Hà

Ông Nguyễn Văn Ngư

- Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Tú Lệ, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Sóc Trăng.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Sóc Trăng tham gia phiên tòa: Bà Huỳnh Mộng Kiều - Kiểm sát viên.

Trong ngày 08 tháng 5 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Sóc Trăng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 25/2023/TLST-HNGĐ, ngày 15 tháng 02 năm 2023 về Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 39/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 11 tháng 4 năm 2023 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Châu Thị Ngọc D, sinh năm 20xx

Địa chỉ: ấp GC, xã PT, huyện CT, tỉnh Sóc Trăng (vắng mặt, nhưng có đơn xin xét xử vắng mặt).

- Bị đơn: Ông Trần Quốc H, sinh năm 1991

Địa chỉ: Số A ấp A1, xã PT, huyện CT, tỉnh Sóc Trăng (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Trong đơn khởi kiện ngày 02 tháng 02 năm 2023 của nguyên đơn là bà Châu Thị Ngọc D và một số lời khai trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại đơn xin xét xử vắng mặt đề ngày 21 tháng 4 năm 2023, nguyên đơn đều trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Nguyên đơn Châu Thị Ngọc D và bị đơn là ông Trần Quốc H kết hôn năm 2021 có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã PT, huyện CT, tỉnh Sóc Trăng vào ngày 22 tháng 12 năm 2021. Nguyên nhân mâu thuẫn là do tính tình vợ chồng không hợp, bất đồng ý kiến, vợ chồng thường xuyên cãi nhau và bị đơn Trần Quốc H thường xuyên bạo lực gia đình, ông bà đã sống ly thân từ năm 2022 cho đến nay. Nguyên đơn Châu Thị Ngọc D yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Trần Quốc H.

Về con chung: Trong quá trình chung sống ông bà có 01 con chung tên Trần Thị Như Ng, sinh ngày 25 tháng 3 năm 20xx. Sau khi ly hôn bà D có nguyện vọng được tiếp tục nuôi dưỡng cháu Trần Thị Như Ng, sinh ngày 25 tháng 3 năm 20xx và yêu cầu ông H phải cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.

Về tài sản chung và nợ chung: Không có, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Bị đơn ông Trần Quốc H: Sau khi thụ lý, Tòa án đã tóm tắt nội dung đơn khởi kiện và các yêu cầu của bà Châu Thị Ngọc D tại Thông báo thụ lý vụ án số: 25/TB-TLVA, ngày 15 tháng 02 năm 2023 và đã tống đạt hợp lệ cho ông Trần Quốc H, cũng như đã triệu tập hợp lệ ông Trần Quốc H đến dự phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải hai lần và Tòa án đã Thông báo về kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ cho ông. Nhưng ông H không gửi văn bản ghi ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện nêu trên của bà D và cũng không đến dự phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải. Đồng thời, Tòa án cũng ra quyết định đưa vụ án ra xét xử. Ông H cũng đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai để tham gia phiên tòa sơ thẩm nhưng vẫn vắng mặt không có lý do.

* Tại phiên tòa Kiểm sát viên Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Sóc Trăng trình bày ý kiến như sau: Trong quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án đã tiến hành các thủ tục tố tụng đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự như: Xác định đúng thẩm quyền thụ lý vụ án, quan hệ pháp luật tranh chấp, xác định đúng tư cách tham gia tố tụng của các đương sự, việc thu thập chứng cứ đúng theo quy định. Về thời hạn chuẩn bị xét xử được đảm bảo theo quy định. Về thời hạn gửi hồ sơ cho Viện kiểm sát nghiên cứu, việc cấp tống đạt đảm bảo đúng theo quy định. Tại phiên Tòa Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật về phiên tòa sơ thẩm. Nguyên đơn Châu Thị Ngọc D vắng mặt, tuy nhiên nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt là thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, còn bị đơn là ông Trần Quốc H vắng mặt không có lý do và việc vắng mặt của bị đơn H là không thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về việc giải quyết vụ án: Đối với yêu cầu khởi kiện của bà Châu Thị Ngọc D, về việc yêu cầu xin ly hôn với ông Trần Quốc H và yêu cầu tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng con chung là Trần Thị Như Ng, sinh ngày 25 tháng 3 năm 20xx và yêu cầu ông H phải cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật. Nhận thấy các yêu cầu nêu trên của nguyên đơn là có căn cứ nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận, về tài sản chung và nợ chung bà D tự trình bày không có nên đề nghị Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng:

Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Theo đơn khởi kiện lập ngày 02 tháng 02 năm 2023, nguyên đơn Duyên yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với bị đơn Trần Quốc H, sinh năm 19xx có địa chỉ tại số A ấp A1, xã PT, huyện CT, tỉnh Sóc Trăng. Căn cứ Khoản 1 Điều 28, Điểm a Khoản 1 Điều 35 và Điểm a Khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử xác định việc Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Sóc Trăng thụ lý, giải quyết vụ án theo trình tự sơ thẩm là đúng quy định của pháp luật về thẩm quyền giải quyết vụ án.

Nguyên đơn là bà Châu Thị Ngọc D và bị đơn Trần Quốc H đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vắng mặt, tuy nhiên tại Đơn xin xét xử vắng mặt bà D đã đề nghị Tòa án giải quyết vụ án vắng mặt bà, còn bị đơn Trần Quốc H vắng mặt không có lý do. Nên Hội đồng xét xử căn cứ vào Khoản 2 Điều 227, Khoản 3 Điều 228, Khoản 3 Điều 235 và Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn D và bị đơn H.

Về nội dung vụ án:

Về quan hệ hôn nhân: Nguyên đơn Châu Thị Ngọc D và bị đơn Trần Quốc H kết hôn với nhau là trên cơ sở tự nguyện, không ai ép buộc, được Ủy ban nhân dân xã PT, huyện Châu Thành, tỉnh Sóc Trăng cấp giấy chứng nhận kết hôn vào ngày 22 tháng 12 năm 2021, nên quan hệ hôn nhân giữa bà D và ông H là hợp pháp. Khoản 1 Điều 51 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 quy định: “Vợ, chồng hoặc cả hai người có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn”. Như vậy, bà D có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với ông H.

Xét yêu cầu xin ly hôn của nguyên đơn D, Hội đồng xét xử nhận thấy, sau khi kết hôn, nguyên đơn D và bị đơn H cũng có thời gian chung sống hạnh phúc bên nhau đến năm 2022. Tuy nhiên, từ năm 2022 cho đến nay thường xuyên phát sinh mâu thuẫn, cãi vã, bất đồng quan điểm sống, mâu thuẫn giữa ông bà đã trầm trọng không thể hàn gắn được và tại đơn xin xét xử vắng mặt nguyên đơn vẫn kiên quyết ly hôn với bị đơn H.

Như vậy, nguyên đơn D và bị đơn H đã vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ của vợ chồng, đó là không thương yêu, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau, không sống chung với nhau; làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài và mục đích của hôn nhân cũng không đạt được. Khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 có quy định: “Khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được”. Do đó, yêu cầu xin ly hôn của nguyên đơn D là có căn cứ, Hội đồng xét xử chấp nhận cho bà D ly hôn với ông H.

Về con chung: Xét yêu cầu của bà Châu Thị Ngọc D xin được nuôi dưỡng con chung tên Trần Thị Như Ng, nữ, sinh ngày 25 tháng 3 năm 20xx đến tuổi trưởng thành, Hội đồng xét xử nhận thấy, cháu Trần Thị Như Ng chưa đến tuổi trưởng thành, cần có sự chăm sóc của cả cha lẫn mẹ. Trên thực tế, cháu Ng đã và đang sống chung với mẹ là nguyên đơn D, cuộc sống về mọi mặt vẫn được đảm bảo. Vì vậy, cần giao cháu Ng cho nguyên đơn D tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng là hợp lý.

Về cấp dưỡng nuôi con: Khoản 2 Điều 82 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 quy định: “Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con”. Theo đơn khởi kiện nguyên đơn D yêu cầu bị đơn H phải cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật nhưng không nêu rõ mức cấp dưỡng và các bên đương sự cũng không thỏa thuận được mức cấp dưỡng nuôi con sau khi ly hôn. Hội đồng xét xử nhận thấy, bị đơn H là người không trực tiếp nuôi cháu Ng thì phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con vì việc cấp dưỡng nuôi con là quyền và nghĩa vụ của cha, mẹ không trực tiếp nuôi con. Từ những phân tích nêu trên cần buộc bị đơn H phải cấp dưỡng 745.000 đồng/tháng phù hợp với điều kiện sống hiện nay tại địa phương. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của bà D, buộc ông H cấp dưỡng nuôi cháu Ng mỗi tháng là 745.000 đồng cho đến khi cháu Ng đủ 18 tuổi. Thời gian cấp dưỡng tính từ ngày 08 tháng 5 năm 2023.

Ngoài ra, Khoản 3 Điều 82 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 còn quy định: “Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở”. Như vậy, ông H là người không trực tiếp nuôi con nên có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

Về tài sản chung và nợ chung: Bà Châu Thị Ngọc D tự khai không có, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

Từ những phân tích trên, đủ cơ sở chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Châu Thị Ngọc D và đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Sóc Trăng.

Về án phí sơ thẩm: Bà D là người xin ly hôn nên theo quy định tại điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bà D phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân và được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp. Bị đơn H phải chịu án phí cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Khoản 1 Điều 28, điểm a Khoản 1 Điều 35, điểm a Khoản 1 Điều 39, Khoản 2 Điều 227, Khoản 3 Điều 228, Khoản 3 Điều 235 và Điều 238, Điều 271, Điều 273, Điều 278, Điều 280 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 19, Khoản 1 Điều 51, Khoản 1 Điều 56, Khoản 2 Điều 81, Khoản 2 và Khoản 3 Điều 82, Điều 8, Điều 107, Điều 110 và Điều 111 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; điểm a Khoản 5 và điểm a Khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Châu Thị Ngọc D

1. Về quan hệ hôn nhân: Cho ly hôn giữa bà Châu Thị Ngọc D và ông Trần Quốc H.

2. Về nuôi con chung:

2.1. Giao con chung tên Trần Thị Như Ng (nữ, sinh ngày 25 tháng 3 năm 20xx) hiện đang sống chung với bà D cho bà Châu Thị Ngọc D trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi cháu Ng đủ 18 tuổi.

2.2. Về cấp dưỡng nuôi con: Ông H phải cấp dưỡng nuôi con với số tiền là 745.000 đồng trên tháng, thời gian cấp dưỡng nuôi con được tính kể từ ngày 08 tháng 5 năm 2023 cho đến khi cháu Ng thành niên (đủ 18 tuổi).

2.3. Ông H có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở ông H thực hiện quyền này, theo quy định tại Khoản 3 Điều 82 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014

3. Về tài sản chung và nợ chung: Bà Châu Thị Ngọc D tự khai không có, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

4. Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà D phải chịu là 300.000 đồng án phí ly hôn nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu số 0005792 ngày 03/02/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh Sóc Trăng. Bà D đã nộp xong án phí dân sự sơ thẩm.

Bị đơn Trần Quốc H phải chịu án phí cấp dưỡng nuôi con với số tiền là 300.000 đồng.

5. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ, để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng xét xử lại theo trình tự phúc thẩm.

6. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014 thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014.

Riêng phần nội dung về cấp dưỡng được thi hành ngay theo quy định tại Điểm a Khoản 2 Điều 482 Bộ luật Tố tụng dân sự và Điểm a Khoản 2 Điều 2 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ