vanban.org

Bản án 23/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Võ Thị H đối với anh Mai Văn T. Giữa chị H và anh T không còn quyền, nghĩa vụ vợ cH.

Về con chung: giao chị H tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục các cháu: Mai Thị Mỹ D, sinh ngày 11/5/2009; Mai Võ Duy P, sinh ngày 06/02 2012 và Mai Võ Xuân Q, sinh ngày 04/02/2015. Ghi nhận chị H không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung và nợ chung: Chị H không yêu c… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn giữa võ thị H và Mai văn T"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Võ Thị H đối với anh Mai Văn T. Giữa chị H và anh T không còn quyền, nghĩa vụ vợ cH.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN BẾN CẦU
TỈNH TÂY NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 23/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 20/6/2023
Về tranh chấp: “Ly hôn”Về tranh chấp: “Ly hôn”

NINH

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẾN CẦU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hảo Phát.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Lê T Hải;

2. Ông Nguyễn Văn Tẻo.

- Thư ký phiên tòa: ông Đỗ Cao Cường – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bến Cầu, tỉnh Tây Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bến Cầu tham gia phiên tòa: ông Hoàng Đình Lưỡng - Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 6 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bến Cầu, tỉnh Tây Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 164/2023/ST-HNGĐ ngày 17 tháng 11 năm 2022 về tranh chấp “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 20/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 16 tháng 5 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 12/2023/QĐST- HNGĐ ngày 02 tháng 6 năm 2023, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: chị Võ Thị H, sinh năm 1987; địa chỉ: ấp X, xã T, huyện B, tỉnh Tây Ninh – Có đơn xin xét xử vắng mặt.

- Bị đơn: anh Mai Văn T, sinh năm 1982; địa chỉ: ấp X, xã T, huyện B, tỉnh Tây Ninh – Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 17 tháng 10 năm 2022, lời trình bày trong hồ sơ vụ án nguyên đơn chị Võ Thị H trình bày: chị và anh T chung sống từ năm 2008, có đăng ký kết hôn ngày 03/11/2008, tại UBND xã T, huyện B, tỉnh Tây Ninh. Thời gian đầu chung sống hạnh phúc, đến năm 2022 vợ cH mâu thuẫn thường xuyên gây gỗ, cãi vả nhau, anh T cờ bạc, ăn chơi gây nợ nần, vợ chồng ly thân từ tháng 11/2022 đến nay. Chị H cho rằng tình cảm không còn nên yêu cầu ly hôn với anh T,

Về con chung: có 03 con tên: Mai Thị Mỹ D, sinh ngày 11/5/2009; Mai Võ Duy P, sinh ngày 06/02 2012 và Mai Võ Xuân Q, sinh ngày 04/02/ 2015. Chị H yêu cầu được nuôi 03 con chung, không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con.

Tài sản chung và nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn anh Mai Văn T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không có lý do.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bến Cầu, tỉnh Tây Ninh phát biểu: Về việc tuân theo pháp luật Tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán; Hội đồng xét xử; Thư ký Tòa án đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự, kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đúng theo quy định của bộ luật tố tụng dân sự.

Nguyên đơn đã thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ theo quy định tại Điều 70, Điều 71 BLTTDS. Bị đơn được triệu tập hợp lệ nhưng không đến Tòa án trình bày ý kiến, yêu cầu của mình, không có mặt theo giấy triệu tập của tòa án là không thực hiện đúng quy định pháp luật tại Điều 70, Điều 72 BLTTHS.

Ý kiến về việc giải quyết vụ án: Bà Võ Thị H và ông Mai Văn T chung sống với nhau và có đăng ký kết hôn nên quan hệ hôn nhân hợp pháp, được pháp luật bảo vệ. Mâu thuẫn phát sinh do ông T ghen tuông vô cớ, đánh đập bà H; đánh bài gây ra nợ, vợ chồng gây gổ nhau. Vợ chồng ly thân từ 17/10/2022 đến nay, hôn nhân không còn hạnh phúc nhưng hai người không có thiện chí để hàn gắn gia đình. Nhận thấy đời sống hôn nhân của bà H với ông T lâm vào tình trạng trầm trọng, mục đích của hôn nhân không đạt được nên yêu cầu ly hôn của bà H là có căn cứ.

Căn cứ các Điều 56, 58; 81, 82, 83 Luật HNGĐ; Khoản 4 Điều 147 BLTTDS, Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, đề nghị HĐXX tuyên xử:

- Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà H đối với ông T.

- Về con chung: có 03 con chung là Mai Thị Mỹ D, Mai Võ Duy P, Mai Võ Xuân Q, con chung hiện đang sống chung với bà H nên giao cho bà H tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục. Ghi nhận bà H không yêu cầu cấp ông T dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu nên không đặt ra giải quyết.

- Án phí STHN: Bà Võ Thị H phải chịu

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về thủ tục tố tụng: Bị đơn anh Mai Văn T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng không đến tham dự phiên tòa, chị Võ Thị H có đơn xin xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử vắng mặt chị H và anh T là có căn cứ theo quy định tại Điều 227, Điều 228, Điều 238 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về quan hệ hôn nhân: chị Võ Thị H và anh Mai Văn T chung sống với nhau từ năm 2008, có đăng ký kết hôn ngày 03/11/2008, hôn nhân do tự nguyện, là hôn nhân hợp pháp được pháp luật bảo vệ.

Trong quá trình giải quyết vụ án, chị H cho rằng thời gian đầu vợ chồng sống hạnh phúc, đến năm 2022 vợ chồng mâu thuẫn thường xuyên gây gổ, cãi vả nhau, anh T cờ bạc, ăn chơi gây nợ nần, vợ chồng ly thân từ tháng 11/2022 đến nay. Chị H cho rằng tình cảm không còn nên yêu cầu ly hôn với anh T,

Qua xác minh tại địa phương, mâu thuẫn vợ chồng giữa chị H và anh T là trầm trọng, do ghen tuông, anh T thường xuyên đánh đập chị H, chị H đã nhiều lần báo chính quyền địa phương, vợ chồng đã ly thân gần 01 năm. Anh T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng không đến tham dự phiên tòa và các phiên công khai chứng cứ, hòa giải cho thấy anh T không có thiện chí hàn gắn, đoàn tụ nên căn cứ Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị H là phù hợp.

Về con chung: có 03 con tên: Mai Thị Mỹ D, sinh ngày 11/5/2009; Mai Võ Duy P, sinh ngày 06/02 2012 và Mai Võ Xuân Q, sinh ngày 04/02/2015, hiện đang sống chung với chị H. Chị H yêu cầu được nuôi 03 con chung, không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con. Nguyện vọng của các cháu muốn được sống chung với mẹ nên giao chị H tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục các cháu là phù hợp.

Về tài sản chung và nợ chung: chị H không yêu cầu Tòa án giải quyết nên ghi nhận.

Chị H phải chịu án phí theo quy định tại Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng).

Xét đề nghị của Viện kiểm sát là phù hợp nên cần chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng Điều 56, 81, 82 và 83 của Luật hôn nhân và gia đình; Điều 147 BLTTDS; Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, tuyên xử;

1. Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Võ Thị H đối với anh Mai Văn T. Giữa chị H và anh T không còn quyền, nghĩa vụ vợ cH.

Về con chung: giao chị H tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục các cháu: Mai Thị Mỹ D, sinh ngày 11/5/2009; Mai Võ Duy P, sinh ngày 06/02 2012 và Mai Võ Xuân Q, sinh ngày 04/02/2015. Ghi nhận chị H không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và nợ chung: Chị H không yêu cầu nên không đặt ra giải quyết.

2. Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Võ Thị H phải chịu 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng. Khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí chị H đã nộp 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng theo biên lai thu số 0022877 ngày 17 tháng 11 năm 2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bến Cầu, tỉnh Tây Ninh. Ghi nhận chị H đã nộp xong tiền án phí.

Án sơ thẩm xử công khai, báo cho chị H, anh T biết có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Th ph n - Ch a phi n a

Cỡ chữ