vanban.org

Bản án 23/2023/DS-ST — Dân sự

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Hà Văn P đối với anh Trần Đông H.

Buộc anh Trần Đông H phải trả cho anh Hà Văn P số tiền cả gốc 291.400.000đ (Hai trăm chín mươi mốt triệu bốn trăm nghìn đồng). Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật và người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án dân sự — "Tranh chấp hợp đồng mua bán giữa anh P và anh H"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Hà Văn P đối với anh Trần Đông H.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 119 Bộ luật Dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN LÂM THAO
TỈNH PHÚ THỌ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 23/2023/ DS -ST
Ngày: 06/9/2023
V/v “Tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LÂM THAO, TỈNH PHÚ THỌ

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thu Trang

- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Gia Phượng

Ông Nguyễn Ngọc Tâm

Thư ký phiên tòa: Ông Lê Đức Xiêm - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ.

- Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ tham gia phiên toà: Bà Trần Lại Khánh Chi - Kiểm sát viên.

Ngày 06/9/2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ xét xử sơ thẩm công khai theo thủ tục thông thường vụ án thụ lý số: 35/2023/TLST- DS ngày 07 tháng 02 năm 2023 về việc “Tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 30/2023/QĐST - DS ngày 31 tháng 7 năm 2023; quyết định hoãn phiên tòa số 55/2023/QĐST-DS ngày 18 tháng 8 năm 2023 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Anh Hà Văn P, sinh năm 1988; địa chỉ: Xóm 3, xã Vĩnh Hòa, huyện Ninh Giang, tỉnh Hải Dương.

Đại diện theo ủy quyền: Ông Chu Văn Q – Là Luật sư công ty Luật Hợp danh Hùng Vương thuộc đoàn Luật sư tỉnh Phú Thọ.

(Giấy ủy quyền ngày 02/12/2022)

Bị đơn: Anh Trần Đông H, sinh năm 1977; địa chỉ: Khu 10, xã T, huyện L, tỉnh Phú Thọ.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

- Anh Vũ Y, sinh năm 1973; địa chỉ: Số nhà 29, tổ 9, khu Mã Thượng A, thị trấn P, huyện P, tỉnh Phú Thọ.

(Ông Q, anh H có mặt;anh Y mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và lời khai tại Tòa phía nguyên đơn, đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn là ông Chu Văn Q trình bày: Ngày 10/4/2022, anh Hoàng Văn P có bán cho anh Trần Đông H mặt hàng than củi tại cửa khẩu Chi Mai, tỉnh Lạng Sơn với giá 346.400.000đ (Ba trăm bốn mươi sáu triệu bốn trăm nghìn đồng). Anh H đã nhận hàng đầy đủ và đã trả được cho anh Hoàng Văn P số tiền là 55.000.000đ (Năm mươi lăm triệu đồng). Số tiền còn lại là 291.400.000đ (Hai trăm chín mươi mốt triệu bốn trăm nghìn đồng), anh H đã viết giấy hẹn một tháng sau sẽ trả cho anh P. Tuy nhiên, đến hẹn anh H đã không thực hiện việc trả nợ cho anh P như đã cam kết. Do vậy, với tư cách là người đại diện theo ủy quyền ông Q đề nghị ông P phải thanh toán khoản tiền gốc là 291.400.000đ (Hai trăm chín mươi mốt triệu bốn trăm nghìn đồng) và tiền lãi phát sinh theo quy định của pháp luật. Tại phiên tòa, đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn rút một phần yêu cầu khởi kiện chỉ đề nghị Tòa án nhân dân huyện Lâm Thao buộc anh Trần Đông H phải thanh toán cho anh Hà Văn P số tiền gốc là 291.400.000đ (Hai trăm chín mươi mốt triệu bốn trăm nghìn đồng), anh Hà Văn P không yêu cầu tính lãi.

Phía bị đơn là anh Trần Đông H trình bày:

Do mối quan hệ quen biết với anh Vũ Y, trong khoảng thời gian này anh Vũ Y có nhu cầu mua than củi nên có nhờ anh tìm nguồn than để có nguồn xuất khẩu sang Trung Quốc nên có nhờ anh gọi than và cùng anh nhận than từ anh Hà Văn P.

Trước khi nhận than anh đã chuyển khoản cho anh Hà Văn P số tiền là 55.000.000đ (Năm mươi lăm triệu đồng), số tiền này anh Vũ Y chuyển khoản cho anh. Theo sự thỏa thuận giữa anh và anh P thì tổng số tiền mua than theo hợp đồng là 346.400.000đ (Ba trăm bốn mươi sáu triệu bốn trăm nghìn đồng). Anh đã chuyển khoản cho anh P số tiền là 55.000.000đ (Năm mươi lăm triệu đồng). Số tiền còn lại anh sẽ thanh toán nốt khi nhận than. Tuy nhiên, do chưa bán được than nên anh chưa thanh toán được cho anh Hà Văn P. Vì vậy, ngày 16/7/2022, anh đã viết giấy biên nhận tiền cụ thể anh đã nhận than của anh P số tiền là 346.400.000đ (Ba trăm bốn mươi sáu triệu bốn trăm nghìn đồng). Anh đã chuyển khoản cho anh P số tiền là 55.000.000đ (Năm mươi lăm triệu đồng). Anh còn nợ lại số tiền là 291.400.000đ (Hai trăm chín mươi mốt triệu bốn trăm nghìn đồng), trong vòng một tháng sẽ thanh toán cho anh Vũ Y khoản tiền trên. Nhưng do chưa đòi được tiền anh Vũ Y nên anh chưa thanh toán được cho anh P. Nay anh P khởi kiện đề nghị Tòa án nhân dân huyện Lâm Thao buộc anh phải thanh toán cho anh P số tiền là 291.400.000đ (Hai trăm chín mươi mốt triệu bốn trăm nghìn đồng), và tiền lãi phát sinh thì anh nhất trí trả cho anh P khi anh đòi được tiền than từ anh Vũ Y. Anh đề nghị Tòa án đưa anh Vũ Y tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là anh Vũ Y vắng mặt tại địa phương, Tòa án đã tiến hành thu thập chứng cứ và đăng thông báo tìm kiếm người vắng mặt trên phương tiện thông tin đại chúng; cổng thông tin điện tử của Tòa án nhưng anh Vũ Y không đên Tòa nên không thể hiện được quan điểm của mình.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và các đương sự từ khi thụ lý vụ án cho đến trước khi Hội đồng xét xử nghị án đã được thực hiện đúng theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự.

Đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng: Điều 119; Điều 357; Điều 430; Điều 431; Điều 433; Điều 440 của Bộ luật dân sự năm 2015;

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Hà Văn P đối với anh Trần Đông H.

2. Buộc anh Trần Đông H phải trả cho anh Hà Văn P số tiền cả gốc 291.400.000đ (Hai trăm chín mươi mốt triệu bốn trăm nghìn đồng).

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật và người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

3. Về án phí dân sự sơ thẩm: Áp dụng khoản 1 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.

Anh Trần Đông H phải chịu 14.570.000 đ (Mười bốn triệu năm trăm bảy mươi nghìn đồng chẵn).

Hoàn lại cho anh Hà Văn P số tiền tạm ứng án phí là 7.610.000 đ (Bảy triệu sáu trăm mười nghìn đồng).

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được xem xét công khai tại phiên tòa. Tòa án nhận định:

. Về tố tụng: Anh Hà Văn P khởi kiện đòi anh Trần Đông H phải trả số tiền mua than củi mà anh Trần Đông H còn thiếu của anh là 291.400.000đ (Hai trăm chín mươi mốt triệu bốn trăm nghìn đồng) nên đây là vụ án “Tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản”. Bị đơn có nơi cư trú tại xã T, huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ nên căn cứ vào khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự thì tranh chấp nói trên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ.

Về sự có mặt của đương sự: Ngay sau khi thụ lý vụ án, Toà án đã tiến hành xác minh, thu thập chứng cứ xác định anh Vũ Y không có mặt tại địa phương mà việc niêm yết công khai không đảm bảo cho anh Vũ Y các văn bản tố tụng của Tòa án nên căn cứ vào Điều 180 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án đã làm thủ tục đăng thông báo tìm kiếm người vắng mặt trên các phương tiện thông tin đại chúng; đăng thông báo trên cổng thông tin điện tử của Tòa án theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Anh Vũ Y vắng mặt tại phiên toà nên căn cứ vào điểm b, khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt anh Vũ Y là phù hợp.

. Về nội dung: Xét yêu cầu khởi kiện, phạm vi khởi kiện của nguyên đơn trên cơ sở căn cứ vào bản tự khai của các đương sự, căn cứ vào tài liệu, chứng cứ do đương sự cung cấp, tài liệu chứng cứ do Tòa án thu thập được. Hội đồng xét xử xét thấy:

Việc anh Trần Đông H có thỏa thuận bằng miệng việc mua bán than củi của anh Hà Văn P là có thật. Điều này được phía nguyên đơn và bị đơn đều thừa nhận. Hơn nữa, trong giấy nhận nợ số tiền còn lại mà anh H viết và ký ngày 16/7/2022, anh H thừa nhận còn nợ của anh Hà Văn P số tiền là 291.400.000đ (Hai trăm chín mươi mốt triệu bốn trăm nghìn đồng). Như vậy, kể từ thời điểm hai bên thỏa thuận mua bán và thực hiện việc chuyển giao tiền, than củi cho nhau đã phát sinh quyền và nghĩa vụ dân sự giữa các bên theo quy định của pháp luật dân sự.

Về việc thực hiện nghĩa vụ dân sự sau khi ký kết hợp đồng: Sau khi nhận hàng, anh H mới thanh toán được cho anh số tiền là 55.000.000đ (Năm mươi lăm tiệu đồng), sau đó không thanh toán được cho anh P khoản tiền nào nữa. Ngày 16/7/2022, anh Trần Đông H có viết giấy biên nhận cho anh Hà Văn P chốt khoản nợ còn lại là 291.400.000đ (Hai trăm chín mươi mốt triệu bốn trăm nghìn đồng) và hẹn sẽ thanh toán cho anh P khoản tiền trên trong thời gian sớm nhất, trong vòng một tháng nhưng anh H không thanh toán được đúng hẹn mặc dù anh P đã đòi nhiều lần. Phía anh Trần Đông H cũng thừa nhận mình đã đứng ra mua, nhận than và ký vào giấy nhận nợ 291.400.000đ (Hai trăm chín mươi mốt triệu bốn trăm nghìn đồng) đối với anh Hà Văn P nhưng cho rằng anh đứng ra gọi than cho anh Vũ Y, xuất trình giao dịch chuyển khoản tiền anh Y chuyển cho mình nên khi nào anh Vũ Y trả tiền cho anh thì anh mới trả tiền cho anh P. Xét thấy, giao dịch dân sự mua bán than phát sinh giữa anh P và anh H. Điều này thể hiện ở việc giao nhận hàng cũng như việc chốt nợ giữa hai bên anh H đều ký vào giấy chốt nợ đó. Mặc dù anh H cho rằng anh mua than hộ anh Y nhưng anh P xác định việc giao dịch mua bán than là giữa anh với anh H, chứ không liên quan đến anh Y. Mặt khác, Tòa án cũng đã báo gọi anh Vũ Y đến làm việc nhưng anh Y không đến Tòa. Do vậy, không có căn cứ xác định anh Trần Đông H mua hàng trên cho anh Y. Nên việc anh P khởi kiện đề nghị Tòa án nhân dân huyện Lâm Thao buộc anh Trần Đông H phải thanh toán cho anh số tiền gốc còn nợ là 291.400.000đ (Hai trăm chín mươi mốt triệu bốn trăm nghìn đồng) là có căn cứ cần chấp nhận.

Về số tiền lãi: Anh Hà Văn P tự nguyện không yêu cầu nên không đặt ra xem xét, giải quyết.

Việc anh H cho rằng anh mua hộ than cho anh Y sẽ được giải quyết bằng vụ án dân sự khác khi đương sự có yêu cầu.

. Về án phí:

Do yêu cầu của anh Hà Văn P được chấp nhận nên anh được hoàn lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 7.610.000 đ (Bảy triệu sáu trăm mười nghìn đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2020/0002379 ngày 06 tháng 02 năm 2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ.

Anh Trần Đông H phải chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào: Điều 119; Điều 357; Điều 430; Điều 431; Điều 433; Điều 440 của Bộ luật dân sự năm 2015; Khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 147; khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Hà Văn P đối với anh Trần Đông H.

2. Buộc anh Trần Đông H phải trả cho anh Hà Văn P số tiền cả gốc 291.400.000đ (Hai trăm chín mươi mốt triệu bốn trăm nghìn đồng).

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật và người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

3. Về án phí dân sự sơ thẩm: Anh Trần Đông H phải chịu 14.570.000 đ (Mười bốn triệu năm trăm bảy mươi nghìn đồng chẵn).

Hoàn lại cho anh Hà Văn P số tiền tạm ứng án phí là 7.610.000 đ (Bảy triệu sáu trăm mười nghìn đồng) theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số AA/2020/0002379 ngày 06/02/2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ.

Đương sự có mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm, đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết để đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ xét xử phúc thẩm.

Trường hợp Bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị c-ưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ