vanban.org

Bản án 23/2022/HSST — Hình sự

TAND huyện Sa Pa, tỉnh Lào Cai Tuyên án 27/06/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Phàn Trần T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Về hình phạt: Căn cứ khoản 1 Điều 173; Điểm b, h, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự 2015: Xử phạt bị cáo Phàn Trần T 06 (sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 12 tháng kể từ ngày tuyên án. Giao bị cáo Phàn Trần T cho Ủy ban nhân dân xã Thanh Bình, thị… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Phàn Trần T phạm tội Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Phàn Trần T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ SA PA - TỈNH LÀO CAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 23/2022/HS - ST
Ngày 27/6/2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ SA PA - TỈNH LÀO CAI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Giàng Thị Thu Trang

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Nguyễn Hải Ưng;

2. Ông Sùng A Cở;

- Thư ký phiên tòa: Ông Ngô Hoàng Tùng – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã SP, tỉnh LC.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Sa Pa tham gia phiên toà: Bà Lồ Kim Vân - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 6 năm 2022, tại trụ sở Ủy ban nhân dân phường Sa Pả, thị xã SP, tỉnh LC xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 15/2022/TLST- HS ngày 25 tháng 5 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 17/2022/QĐXXST- HS ngày 16 tháng 6 năm 2022 của Tòa án nhân dân thị xã Sa Pa đối với bị cáo:

Phàn Trần T; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam. Sinh ngày 10/6/1993, tại thị xã SP, tỉnh LC. Nơi cư trú: Thôn BP, xã TB, thị xã SP, tỉnh LC; Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ học vấn: 9/12; Dân tộc: Dao; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam;

Con ông Phàn Sành Q (sinh năm 1967) và bà Chảo Mùi Ph (sinh năm 1966), cùng trú tại Thôn BP, xã TB, thị xã SP, tỉnh LC. Bị cáo có vợ là Lý Mùi N (sinh năm 1993), có 03 con, con lớn nhất sinh năm 2012, con nhỏ nhất sinh năm 2018, vợ và con bị cáo đều cư trú tại Thôn BP, xã TB, thị xã SP, tỉnh LC.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo Phàn Trần T bị áp dụng biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 26/4/2022 tại Thôn BP, xã TB, thị xã SP, tỉnh LC. Có mặt tại phiên tòa.

Người bào chữa cho bị cáo: Bà Lò Thị Thúy Ngọc – Trợ giúp viên pháp lý – Chi nhánh trợ giúp pháp lý số 8 thị xã Sa Pa, thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Lào Cai. Có mặt tại phiên tòa.

- Người Bị hại: Chị Đoàn Thị B; sinh ngày 18/11/1984, trú tại bản PK, xã PK1, huyện TU, tỉnh Lai Ch. Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt tại phiên tòa.

- Người làm chứng:

+ Ông Đinh Văn S; sinh năm 1968; Tổ 03, phường Phan Si Păng, thị xã SP, tỉnh LC. Vắng mặt tại phiên tòa.

+ Bà Lê Thị Th; sinh năm 1978; Tổ 03, phường Phan Si Păng, thị xã SP, tỉnh LC. Vắng mặt tại phiên tòa.

+ Bà Nguyễn Thị O; sinh năm 1965; Tổ 03, phường Phan Si Păng, thị xã SP, tỉnh LC. Vắng mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào hồi 15 giờ 15 ngày 16/01/2022, Phàn Trần T (sinh ngày 10/6/1993, trú tại Thôn BP, xã TB, thị xã SP, tỉnh LC) đi xe mô tô Honda Blade BKS 24B1-660.03 màu trắng đến cửa hàng tạp hóa của chị Lê Thị Th (sinh năm 1978) tại số 798 đường Điện Biên Phủ, tổ 3 phường Phan Si Păng, thị xã SP, tỉnh LC, để mua hoa quả. Tại đây Phàn Trần T nhìn thấy 01chiếc điện thoại OPPO A5s màu đen ốp nhựa dẻo màu trắng đang để trên quầy hoa quả, không có ai trông coi nên đã nảy sinh ý định trộm cắp chiếc điện thoại này để sử dụng. Phàn Trần T quan sát xung quanh thấy nhà chị Lê Thị Th có gắn camera nên kéo mũ của chiếc áo khoác đang mặc lên với mục đích che mặt của mình. Tình thấy không ai để ý nên tiến lại gần quầy hoa quả, dùng tay trái cầm lấy chiếc điện thoại nói trên cho vào túi áo phía trước bên trái của mình. Sau khi thực hiện xong hành vi phạm tội, Phàn Trần T mua một ít hoa quả rồi đi về khu lán công nhân mình ở, Tình cất giấu chiếc điện thoại ở giá, sát tường nhà vệ sinh.

Chị Đoàn Thị B, sinh ngày 18/11/1984; trú tại bản PK, xã PK1, huyện TU, tỉnh Lai Ch sau khi phát hiện bị mất điện thoại đã đến Công an phường Phan Si Păng trình báo sự việc. Đến khoảng 18 giờ cùng ngày, Công an phường Phan Si Păng phát hiện và triệu tập Phàn Trần T đến làm việc về hành vi trộm cắp tài sản.

Quá trình điều tra, Phàn Trần T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình và giao nộp toàn bộ tang vật cho cơ quan Công an.

Tại bản kết luận định giá số 08 ngày 08/4/2022 của Hội đồng định giá tài sản thị xã Sa Pa kết luận giá trị còn lại của 01 điện thoại OPPO A5s là: 2.750.000 đồng (hai triệu bảy trăm năm mươi nghìn đồng).

Tại bản cáo trạng số 15/CT-VKS-SP ngày 24/5/2022 của Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Sa Pa truy tố bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Sa Pa giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Phàn Trần T phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Áp dụng khoản 1 Điều 173; Điểm b, h, i, s, khoản 1 và Khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Phàn Trần T từ 06 tháng đến 08 tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách từ 12 đến 16 tháng. Không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Đối với chiếc điện thoại OPPO A5s màu trắng, ngày 18/5/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã ban hành quyết định xử lý vật chứng số 20/QĐ-XLVC quyết định trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp là chị Đoàn Thị B theo biên bản về việc trả lại đồ vật tài liệu ngày là phù hợp.

Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại sau khi nhận lại tài sản, không yêu cầu đề nghị bồi thường gì đối với bị cáo nên không xem xét.

Tuyên án phí và quyền kháng cáo đối với bị cáo, người bị hại theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa người bào chữa cho bị cáo Phàn Trần T nhất trí với tội danh, Điều luật Viện kiểm sát nhân dân thị xã Sa Pa truy tố đối với bị cáo. Bị cáo Phàn Trần T là người dân tộc thiểu số sống ở vùng có điều kiện kinh tế khó khăn, trình độ hiểu biết pháp luật cũng như nhận thức của bị cáo còn nhiều hạn chế nên dẫn đến hành vi phạm tội của bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 173; Điểm b, h, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự 2015 sự. Xử phạt bị cáo Phàn Trần T 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.

Tại phiên tòa bị cáo Phàn Trần T đồng ý với tội danh và điều luật mà Viện kiểm sát nhân dân thị xã Sa Pa đã truy tố đối với bị cáo, bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ NHẬN ĐỊNH:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Sa Pa, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa hôm nay bị cáo Phàn Trần T đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bị cáo như đã khai tại cơ quan điều tra. Lời khai nhận tội của bị cáo được chứng minh bằng các tài liệu chứng cứ khác như: Đơn trình báo ngày 16/01/2022; Biên bản khám nghiệm hiện trường, bản ảnh hiện trường; Lệnh nhập kho vật chứng; Quyết định xử lý vật chứng; Biên bản về việc trả lại đồ vật, tài liệu; Biên bản ghi lời khai của bị cáo, người bị hại, người làm chứng; Biên bản mở niêm phong và dữ liệu điện tử; Bản kết luận điều tra số 24 ngày 19/5/2022 của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã SP, tỉnh LC. Bản cáo trạng số 15/CT-VKS-SP ngày 24/5/2022 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã SP, tỉnh LC, cùng các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

Hội đồng xét xử có đủ căn cứ kết luận: Ngày 16/01/2022, Phàn Trần T đã có hành vi trộm cắp 01 điện thoại OPPO A5s của chị Đoàn Thị B có giá trị còn lại là: 2.750.000 đồng (hai triệu bảy trăm năm mươi nghìn đồng)

Hành vi của bị cáo đã phạm tội "Trộm cắp tài sản" theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự. Do đó, Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Sa Pa truy tố bị cáo Phàn Trần T về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Hành vi "Trộm cắp tài sản" của Phàn Trần T là vi phạm pháp luật, gây mất trật tự trị an tại địa phương, xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật công nhận và bảo vệ nên cần phải xét xử bị cáo mức án tương ứng với hành vi phạm tội của bị cáo.

[3] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự;

Bị cáo có các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa hôm nay bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; Bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; Bị cáo phạm tội nhưng gây thiệt hại không lớn, tài sản trộm cắp đã được thu hồi và trả cho người bị hại; Trong quá trình giải quyết bị cáo đã chủ động gặp xin lỗi và bồi thường thiệt hại cho người bị hại số tiền 500.000đồng, người bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Do đó, bị cáo Phàn Trần T được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, h, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

[4] Về hình phạt chính: Xét tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo và đề nghị của Viện kiểm sát. Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo có nhân thân tốt, nơi cư trú rõ ràng, nên áp dụng Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015, quyết định áp dụng hình phạt tù nhưng cho bị cáo được hưởng án treo cũng đủ điều kiện để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người công dân lương thiện, có ích cho gia đình và xã hội.

[5] Về hình phạt bổ sung: Tại khoản 5 Điều 173 quy định: "Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng". Song xét thấy điều kiện kinh tế của bị cáo khó khăn, không có tài sản riêng gì nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[6] Về trách nhiệm dân sự: Sau khi nhận lại tài sản người bị hại không yêu cầu bị cáo bồi thường gì về trách nhiệm dân sự nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[7] Về vật chứng: Đối với chiếc điện thoại OPPO A5s màu trắng, ngày 18/5/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã ban hành quyết định xử lý vật chứng số 20/QĐ-XLVC quyết định trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp là chị Đoàn Thị B theo biên bản về việc trả lại đồ vật tài liệu ngày là phù hợp.

[8] Về án phí: Bị cáo Phàn Trần T phải chịu tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016 UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Phàn Trần T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

2. Về hình phạt: Căn cứ khoản 1 Điều 173; Điểm b, h, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự 2015: Xử phạt bị cáo Phàn Trần T 06 (sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 12 tháng kể từ ngày tuyên án.

Giao bị cáo Phàn Trần T cho Ủy ban nhân dân xã Thanh Bình, thị xã SP, tỉnh LC giám sát, giáo dục. Trong trường hợp bị cáo Phàn Trần T thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 của Luật Thi hành án hình sự.

Trường hợp người chấp hành án thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại điều 92 Luật Thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ hai lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 nghị quyết 326/2016-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về án phí và lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Phàn Trần T phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo Phàn Trần T được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người bị hại được kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành án theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b, 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ