vanban.org

Bản án 23/2022/HSST — Hình sự

TAND huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu Tuyên án 27/12/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo: Pờ Khừ D phạm tội "Mua bán trái phép chất ma túy" quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự.

. Căn cứ vào Điều 38; Điều 50; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Pờ Khừ D: 07 (bảy) năm tù về tội "Mua bán trái phép chất ma túy". Thời hạn tù được tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án. Về hình phạt bổ sung là phạt tiền theo quy định tại khoản 5 … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Pờ Khừ D - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo: Pờ Khừ D phạm tội "Mua bán trái phép chất ma túy" quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN MƯỜNG TÈ
TỈNH LAI CHÂU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 23/2022/HSST
Ngày: 27/12/2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƯỜNG TÈ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lò Xuân Hải.

Các hội thẩm nhân dân:

Ông: Quách Văn Thành.

Bà: Lý Thị The.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Tuấn - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Tè tham gia phiên tòa: Ông Lương Gia Khánh - Kiểm sát viên.

Trong ngày 27 tháng 12 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mường T, tỉnh Lai C, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 30/2022/TL-ST-HS, ngày 11 tháng 11 năm 2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 24/2022/QĐXXST-HS, ngày 15 tháng 12 năm 2022 đối với bị cáo.

- Pờ Khừ D: Giới tính: Nữ; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày 28/10/2001; nơi sinh: Huyện Mường T, tỉnh Lai C; Nơi ĐKHKTT: bản Mé G, xã Ka L, huyện Mường T, tỉnh Lai C; Quốc tịch: Việt Nam; Nghề nghiệp: Trồng trọt; Trình độ học vấn: 09/12; Dân tộc: Hà Nhì; Tôn giáo: Không; Đảng, đoàn: Không; Con ông Pờ Nhù C, sinh năm 1978 và con bà Mạ Và P, sinh năm 1975; Chồng: Không; Con: Có 02 con, con lớn nhất sinh năm 2019, con nhỏ nhất sinh năm 2020; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân chưa bị xử lý; Bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú tại xã Ka L, huyện Mường T, tỉnh Lai C từ ngày 13/06/2022 cho đến nay - Có mặt.

- Người bào chữa cho bị cáo Pờ Khừ D: Bà Nguyễn Thị Nga - Trợ giúp viên pháp lý của trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Lai C - Có mặt.

- Người làm chứng:

+. Anh: Sừng Khừ X, sinh năm 1978 - Trú tại: Bản Ka L, xã Ka L, huyện Mường T, tỉnh Lai C - Vắng mặt.

+. Anh: Lỳ Sì L, sinh năm 1992 - Trú tại: Bản Mé G, xã Ka L, huyện Mường T, tỉnh Lai C - Vắng mặt.

+. Anh: Pờ Khù C, sinh năm 1995 - Trú tại: Bản Mé G, xã Ka L, huyện Mường T, tỉnh Lai C - Vắng mặt.

+. Anh: Toán Lý H, sinh năm 1995 - Trú tại: Bản Mé G, xã Ka L, huyện Mường T, tỉnh Lai C - Vắng mặt.

+. Chị: Pờ Gió P, sinh năm 1991 - Trú tại: Bản Mé G, xã Ka L, huyện Mường T, tỉnh Lai C - Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 13 giờ ngày 31/05/2022, Pờ Khừ D và anh Nguyễn Văn H đi xe khách từ trung tâm xã Ka L đến thị trấn Mường T, huyện Mường T, tỉnh Lai C, trong thời gian ngồi uống nước mía ở cổng bến xe khách huyện Mường T, D mua được 01 gói Heroine với giá 1.500.000 đồng của một người đàn ông dân tộc M lạ mặt sau đó D cất giấu vào trong túi đựng quần áo. Đến khoảng 06 giờ ngày 01/06/2022 D và anh H đi xe khách quay về nhà ở bản Mé G, xã Ka L, huyện Mường T, tỉnh Lai C. D mang gói Heroine ra chia thành 25 gói được gói bên ngoài bằng các mảnh nilon màu trắng, xanh, hồng và giấy bạc màu vàng, sau đó D cất 18 gói Heroine vào trong một lọ nhựa màu trắng hình trụ có nắp màu vàng rồi đặt dưới chân giường ngủ, còn lại 07 gói Heroine, D cất giấu trong lớp áo có hoa văn, cổ áo màu vàng rồi để vào trong tủ quần áo của gia đình. Đến khoảng 12 giờ ngày 01/06/2022 thì có anh Sừng Khù X và Lỳ Sì L đến nhà D hỏi mua Heroine để sử dụng, L vào nhà hỏi D còn Heroine bán không, bán cho một tép để sử dụng, D đồng ý và bán cho L 01 gói Heroine được gói ngoài bằng mảnh nilon màu trắng với giá 60.000 đồng. Đến khoảng 20 giờ cùng ngày thì có Pờ Gió P đến hỏi D đổi 01 cục pin sạc dự phòng điện thoại lấy Heroine, D đồng ý rồi lấy từ trong lớp áo hoa ra 01 gói Heroine được gói bên ngoài bằng mảnh nilon màu xanh đưa cho P. Đến khoảng 06 giờ ngày 02/06/2022 thì có Pờ Khù C đến hỏi mua Heroine với D, qua trao đổi D đã bán cho C 01 gói Heroine lấy từ trong lớp áo hoa với giá 100.000 đồng. Đến khoảng 11 giờ cùng ngày thì có Toán Lý H đến hỏi mua Heroine, H đưa cho D 100.000 đồng, D cầm tiền rồi đi vào mở tủ quần áo lấy 01 gói Heroine nhằm bán cho H, trong thời gian chuẩn bị đưa Heroine cho H thì có Lỳ Sì L đến và chuẩn bị đưa cho D tờ tiền mệnh giá 100.000 đồng nhằm mua Heroine để sử dụng, đến khoảng 11 giờ 30 phút cùng ngày thì bị tổ công tác Công an xã Ka L và Công an huyện Mường T phát hiện bắt quả tang đối với D và thu giữ toàn bộ vật chứng theo quy định của pháp luật.

Tại kết luận giám định tư pháp số 53/KLGĐ, ngày 02/06/2022 của người giám định tư pháp thuộc Công an huyện Mường T, tỉnh Lai C kết luận: 22 mẫu chất bột khô, màu trắng vật chứng thu giữ của Pờ Khừ D có tổng khối lượng là 1,59 gam.

Tại kết luận giám định số: 492/GĐ-KTHS ngày 12/06/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lai C kết luận: 22 (hai mươi hai) mẫu chất bột màu trắng (ký hiệu từ mẫu 01 đến mẫu 22) gửi đến giám định là ma túy, loại Heroine.

Tại kết luận giám định số: 475/GĐ-KTHS ngày 07/06/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lai C kết luận: 02 (hai) tờ tiền Việt Nam mệnh giá 100.000 đồng có các mã số ký hiệu lần lượt là: PV 18206719; BP 21687203 gửi giám định là tiền thật.

Tại bản cáo trạng số: 109/CT-VKS-MT ngày 11 tháng 11 năm 2022, Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường T, truy tố Pờ Khừ D về tội "Mua bán trái phép chất ma túy" tại phiên tòa hôm nay vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường T vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử xử lý:

- Trách nhiệm hình sự: Đối với Pờ Khừ D về tội danh "Mua bán trái phép chất ma túy" theo điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự.

- Về hình phạt chính: Áp dụng Điều 38; Điều 50; điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Pờ Khừ D từ: 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng đến 08 (tám) năm tù về tội "Mua bán trái phép chất ma túy".

- Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo, do điều kiện kinh tế của bị cáo.

- Về vật chứng: Áp dụng điểm a, điểm b khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, điểm b, điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) pin sạc dự phòng màu đỏ dạng hình chữ nhật kích thước (14,2 x 6,4 x 2,1) cm đã qua sử dụng; 01 (một) chiếc áo có hoa văn, cổ áo màu vàng đã qua sử dụng; 01 (một) lọ nhựa màu trắng hình trụ dạng lọ nhựa đựng viên C sủi, có nắp đậy màu vàng đã qua sử dụng; 01 (một) phong bì màu trắng do Công an huyện Mường T phát hành mặt trước ghi: 02 mảnh nilon màu trắng, 05 mảnh giấy bạc màu vàng, 07 mảnh nilon màu xanh và 08 mảnh nilon màu hồng là vật chứng còn lại thu giữ của Pờ Khừ D.

+. Tịch thu sung quỹ nhà nước: 02 (hai) tờ tiền Việt Nam mệnh giá 100.000 đồng có các mã số ký hiệu lần lượt là: PV 18206719; BP 21687203 gửi giám định là tiền thật, do Pờ Khừ D bán trái phép Heroine mà có.

+. Truy thu số tiền 160.000 đồng do Pờ Khừ D bán Heroine 02 lần (01 lần De bán 01 gói Heroine với giá 60.000 đồng cho Lỳ Sì L; 01 lần De bán 01 gói Heroine với giá 100.000 đồng cho Pờ Khù C) để sung ngân sách nhà nước.

- Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án, xét thấy: Bị cáo là người sử dụng chất ma túy, dân tộc thiểu số Hà Nhì, gia đình thuộc hộ nghèo sinh sống ở xã Ka L là xã biên giới có điều kiện kinh tế, xã hội đặc biệt khó khăn, nhận thức pháp luật còn hạn chế. Do vậy cần miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

Tại phiên tòa hôm nay, người bào chữa cho bị cáo sau khi phân tích tính chất, mức độ phạm tôi, hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo. Người bào chữa đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 52 của Bộ luật hình sự; miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền quy định tại khoản 5 Điều 251 Bộ luật hình sự; xử lý vật chứng; không truy thu số tiền 160.000 đồng do bị cáo bán Heroine 02 lần (01 lần D bán 01 gói Heroine với giá 60.000 đồng cho Lỳ Sì L; 01 lần D bán 01 gói Heroine với giá 100.000 đồng cho Pờ Khù C) do bị cáo là người phụ nữ dân tộc thiểu số Hà Nhì đang nuôi con nhỏ, nghề nghiệp trồng trọt, gia đình là đối tượng hộ nghèo sinh sống ở xã Ka L là xã biên giới có điều kiện kinh tế, xã hội đặc biệt khó khăn và số tiền trên bị cáo đã sử dụng hết vào mục đích nuôi dưỡng 02 con; miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo; Cho bị cáo được hưởng mức thấp nhất của khung hình phạt quy định tại khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự. Bị cáo không có ý kiến gì bổ sung, đồng ý với lời bào chữa của người bào chữa.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa việc bị cáo khai báo là hoàn toàn tự nguyện, không bị mớm cung, ép cung, bị cáo không khiếu nại gì về quyết định, hành vi của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng. Sau khi tranh luận Kiểm sát viên vẫn giữ nguyên mức hình phạt chính như đã đề nghị. Lời nói sau cùng bị cáo rất ân hận về hành vi phạm tội của mình, mong Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức án nhẹ nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Tại phiên tòa hôm nay bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời nhận tội của bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ đã được cơ quan tiến hành tố tụng thu thập có trong hồ sơ vụ án như vậy có đủ cơ sở để kết luận: Trong thời gian khoảng 12 giờ ngày 01/06/2022 đến khoảng 06 giờ ngày 02/06/2022, tại nhà ở của Pờ Khừ D thuộc bản Mé G, xã Ka L, huyện Mường T, tỉnh Lai C. Pờ Khừ D đã 03 lần bán trái phép Heroine cho người khác, trong đó: 01 lần D bán 01 gói Heroine với giá 60.000 đồng cho Lỳ Sì L; 01 lần D đổi 01 gói Heroine để lấy 01 cục pin sạc dự phòng điện thoại của Pờ Gió P; 01 lần D bán 01 gói Heroine với giá 100.000 đồng cho Pờ Khù C. Đến khoảng 11 giờ 30 phút ngày 02/06/2022, D đang có hành vi tàng trữ trái phép 04 gói Heroine có tổng khối lượng là 0,22 gam nhằm mục đích bán kiếm lời. Ngoài ra D còn có hành vi tàng trữ trái phép 18 gói Heroine có kối lượng 1,37 gam để sử dụng và bán kiếm lời, khi D chuẩn bị bản 01 gói Heroine cho Toán Lý H thì bị tổ công tác Công an xã Ka L và Công an huyện Mường T phát hiện bắt quả tang. Toàn bộ 18 gói Heroine và 04 gói Heroine mà D đang tàng trữ bị thu giữ có cùng chung nguồn gốc, như vậy D phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi mua bán trái phép Heroine với tổng khối lượng là 1,59 gam. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội "Mua bán trái phép chất ma túy" vì vậy Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường T đã truy tố bị cáo về tội "Mua bán trái phép chất ma túy" quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự là hoàn toàn đúng người, đúng tội, bị cáo không khiếu nại gì đối với các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng. Do vậy hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đều hợp pháp, đúng pháp luật.

. Hành vi của bị cáo gây ra là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm vào chế độ quản lý độc quyền của Nhà nước đối với chất ma túy, gây mất trật tự an toàn xã hội tại địa phương, bị cáo hiểu được điều đó nhưng vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Do vậy Hội đồng xét xử xét thấy cần phải áp dụng một mức hình phạt nghiêm khắc tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo gây ra nhằm cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian đủ để giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành người lương thiện, có ích cho xã hội và gia đình. Khi quyết định hình phạt Hội đồng xét xử cần xem xét đến các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để quyết định hình phạt đối với bị cáo.

. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, xét thấy: Bị cáo Pờ Khừ D luôn thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự “Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải” quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, cần được xem xét áp dụng cho bị cáo, nhận thấy: Bị cáo là người phụ nữ dân tộc thiểu số Hà Nhì đang nuôi con nhỏ, nhận thức pháp luật còn hạn chế, hoàn cảnh gia đình khó khăn sinh sống ở xã Ka L là xã biên giới có điều kiện kinh tế, xã hội đặc biệt khó khăn, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự cần được xem xét áp dụng cho bị cáo.

. Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự.

. Về nhân thân bị cáo Pờ Khừ D có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, từ nhỏ được bố mẹ nuôi cho ăn học đến lớp 09/12, lớn lên ở nhà tham gia lao động sản xuất tại địa phương, nhưng không chịu khó tu dưỡng, rèn luyện. Bị cáo đã nhận thức rõ được hành vi mua bán, tàng trữ chất ma túy của mình là vi phạm pháp luật nhưng vì mục đích thỏa mãn nhu cầu và hám lời của bản thân nên đã cố ý phạm tội.

. Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 251 Bộ luật hình sự, người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 triệu đồng, xét thấy: Bị cáo là người phụ nữ dân tộc thiểu số Hà Nhì đang nuôi con nhỏ, nghề nghiệp trồng trọt, gia đình là đối tượng hộ nghèo sinh sống ở xã Ka L là xã biên giới có điều kiện kinh tế, xã hội đặc biệt khó khăn. Do vậy Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo quy định tại khoản 5 Điều 251 Bộ luật hình sự.

. Vật chứng của vụ án: Áp dụng điểm a, điểm b khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, điểm b, điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) pin sạc dự phòng màu đỏ dạng hình chữ nhật kích thước (14,2 x 6,4 x 2,1) cm đã qua sử dụng; 01 (một) chiếc áo có hoa văn, cổ áo màu vàng đã qua sử dụng; 01 (một) lọ nhựa màu trắng hình trụ dạng lọ nhựa đựng viên C sủi, có nắp đậy màu vàng đã qua sử dụng; 01 (một) phong bì màu trắng do Công an huyện Mường T phát hành mặt trước ghi: 02 mảnh nilon màu trắng, 05 mảnh giấy bạc màu vàng, 07 mảnh nilon màu xanh và 08 mảnh nilon màu hồng là vật chứng còn lại thu giữ của Pờ Khừ D.

+. Tịch thu sung quỹ nhà nước: 02 (hai) tờ tiền Việt Nam mệnh giá 100.000 đồng có các mã số ký hiệu lần lượt là: PV 18206719; BP 21687203 gửi giám định là tiền thật, do Pờ Khừ D bán trái phép Heroine mà có. [8]. Về án phí: Áp dụng Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án, xét thấy: Bị cáo là người sử dụng chất ma túy, dân tộc thiểu số Hà Nhì, nhận thức pháp luật còn hạn chế, gia đình là hộ nghèo sinh sống ở xã Ka L là xã biên giới có điều kiện kinh tế, xã hội đặc biệt khó khăn. Do vậy cần miển án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

. Đối với việc truy thu số tiền 160.000 đồng do bị cáo bán Heroine 02 lần (01 lần D bán 01 gói Heroine với giá 60.000 đồng cho Lỳ Sì L; 01 lần D bán 01 gói Heroine với giá 100.000 đồng cho Pờ Khù C) để sung vào ngân sách nhà nước, nhận thấy: Đây là tiền do bị cáo Pờ Khừ D phạm tội mà có, nhưng bị cáo đã sử dụng số tiền trên chi tiêu cá nhân hết, cơ quan tiến hành tố tụng không thể tịch thu được số tiền này. Căn cứ Điều 89 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 có thể xác định tiền cũng là vật chứng vụ án. Khi thu hồi được số tiền thì sẽ xử lý bằng cách trả lại cho người bị hại hoặc xung công quỹ nếu đó là tiền bất hợp pháp. Bên cạnh đó vì bị cáo là người phụ nữ dân tộc thiểu số Hà Nhì, đang nuôi con nhỏ, nghề nghiệp trồng trọt, gia đình là đối tượng hộ nghèo sinh sống ở xã Ka L là xã biên giới có điều kiện kinh tế, xã hội đặc biệt khó khăn, tài sản không có gì, trên thực tế đối với hoàn cảnh kinh tế của bị cáo nếu truy thu thì cũng không có tính khả thi. Do vậy Hội đồng xét xử không truy thu số tiền trên đối với bị cáo Pờ Hừ D. [10]. Từ những phân tích như trên, Hội đồng xét xử có cơ sở khách quan và căn cứ pháp lý để kết luận: Bị cáo Pờ Khừ D đã phạm tội "Mua bán trái phép chất ma túy" quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự. Do vậy ý kiến của Kiểm sát viên và của người bào chữa tại phiên tòa về tội danh, điều luật áp dụng, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự Điều 52 Bộ luật hình sự; Xử lý vật chứng; Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền theo quy định tại khoản 5 Điều 251 Bộ luật hình sự đối với bị cáo là có cơ sở đúng quy định của pháp luật, Hội đồng xét xử chấp nhận. [11]. Đối với người đàn ông dân tộc Mông lạ mặt đã bán Heroine với giá 1.500.000 đồng cho bị cáo Pờ Khừ D. Trong qúa trình điều tra không xác định được lai lịch của người đàn ông này nên không đủ căn cứ để xử lý. Do vậy Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết. [12]. Đối với Nguyễn Văn H là người sống chung như vợ chồng với Pờ Khừ D. Qúa trình điều tra xác định: H không biết việc D tàng trữ, mua bán trái phép chất ma túy nên không có cơ sở xem xét xử lý trách nhiệm hình sự. Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường T không truy tố. Do vậy Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

. Đối với Lỳ Sì L, Sừng Khù X, Pờ Gió P và Pờ Khù C là những người đã mua được Heroine với D để sử dụng, sau khi mua được Heroine thì những người này đã sử dụng hết, ngày 03/10/2022 Công an huyện Mường T đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường T không truy tố. Do vậy Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

. Đối với hành vi của Lỳ Sì L có ý định đưa tiền cho D để mua Heroine sử dụng, quá trình điều tra xác định, L và D chưa thực hiện hành vi mua bán trái phép chất ma túy nên không đủ căn cứ để xử lý L và D về hành vi này. Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường T không truy tố. Do vậy Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết. [15]. Đối với Toán Lý H là người đang chuẩn bị mua ma túy với Pờ Khừ D để sử dụng thì bị tổ công tác Công an xã Ka L và Công an huyện Mường T phát hiện, mặc dù H đã đưa tiền cho D nhưng H chưa nhận được ma túy, nên chưa đủ căn cứ để xử lý H về hành vi này. Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường T không truy tố. Do vậy Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Vì các lẽ trên

QUYẾT ĐỊNH

- Tuyên bố bị cáo: Pờ Khừ D phạm tội "Mua bán trái phép chất ma túy" quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự.

+. Căn cứ vào Điều 38; Điều 50; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Pờ Khừ D: 07 (bảy) năm tù về tội "Mua bán trái phép chất ma túy". Thời hạn tù được tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án.

- Về hình phạt bổ sung là phạt tiền theo quy định tại khoản 5 Điều 251 Bộ luật hình sự: Không áp dụng đối với bị cáo Pờ Khừ D.

- Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, điểm b khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, điểm b, điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) pin sạc dự phòng màu đỏ dạng hình chữ nhật kích thước (14,2 x 6,4 x 2,1) cm đã qua sử dụng; 01 (một) chiếc áo có hoa văn, cổ áo màu vàng đã qua sử dụng; 01 (một) lọ nhựa màu trắng hình trụ dạng lọ nhựa đựng viên C sủi, có nắp đậy màu vàng đã qua sử dụng; 01 (một) phong bì màu trắng do Công an huyện Mường T phát hành mặt trước ghi: 02 mảnh nilon màu trắng, 05 mảnh giấy bạc màu vàng, 07 mảnh nilon màu xanh và 08 mảnh nilon màu hồng là vật chứng còn lại thu giữ của Pờ Khừ D.

+. Tịch thu sung quỹ nhà nước: 02 (hai) tờ tiền Việt Nam mệnh giá 100.000 đồng có các mã số ký hiệu lần lượt là: PV 18206719; BP 21687203 gửi giám định là tiền thật của bị cáo Pờ Khừ D.

- Về án phí: Áp dụng Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án. Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Pờ Khừ D.

- Về quyền kháng cáo: Theo quy định tại Điều 331 và Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự, bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ