vanban.org

Bản án 23/2022/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Long Xuyên, tỉnh An Giang Tuyên án 18/03/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Buộc bị cáo Nguyễn Văn L phải chịu 200.

Về quyền kháng cáo: Căn cứ vào Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án bà Nguyễn Thị Cúc có quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh An Giang xét xử phúc thẩm. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Buộc bị cáo Nguyễn Văn L phải chịu 200.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ LONG XUYÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH AN GIANG
Bản án số: 23/2022/HS-ST
Ngày 18/3/2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lại Hiệp Phong.

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Nguyễn Thị Xuân Loan;

Ông Đặng Hữu Tấn.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Tấn Kiệt - Thư ký Tòa án nhân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Ông Lê Hoàng Phú Sang - Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 3 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 10/2022/TLST-HS ngày 24 tháng 02 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 11/2022/QĐXXST-HS ngày 28 tháng 02 năm 2022 đối với bị cáo:

Nguyễn Văn L, sinh năm 1989, tại thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: số 430D, khóm A 4, phường X, thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: làm thuê; trình độ văn hoá (học vấn): 3/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: Đạo phật; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn D (đã chết) và bà Lê Thị P; chưa có vợ, con;

Tiền án: Không;

Tiền sự:

- Ngày 25/5/2018, bị Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc 24 tháng, về hành vi “sử dụng trái phép chất ma túy”; chấp hành xong ngày 30/3/2020;

- Ngày 24/7/2020, bị Công an huyện Vĩnh Thạnh, thành phố Cần Thơ quyết định xử phạt vi phạm hành chính 1.500.000 đồng, về hành vi “tàng trữ trái phép chất ma túy”; nộp phạt xong ngày 27/7/2020;

- Ngày 09/6/2021, bị Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường Mỹ Xuyên, thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại phường 03 tháng, về hành vi “sử dụng trái phép chất ma túy”; chấp hành xong ngày 09/6/2021; Nhân thân:

- Ngày 12/8/2008, bị Ủy ban nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở chữa bệnh 12 tháng, về hành vi “sử dụng trái phép chất ma túy”; chấp hành xong ngày 03/8/2009;

- Ngày 11/11/2009, bị Ủy ban nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở chữa bệnh 24 tháng, về hành vi “sử dụng trái phép chất ma túy”; chấp hành xong ngày 23/9/2011;

- Ngày 20/02/2013, bị Ủy ban nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở chữa bệnh 24 tháng, về hành vi “sử dụng trái phép chất ma túy”; chấp hành xong ngày 30/12/2014;

- Ngày 31/3/2016, bị Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang xử phạt 01 năm tù, về tội “Trộm cắp tài sản”; chấp hành xong ngày 19/01/2017;

- Ngày 07/7/2017, bị Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang xử phạt 09 tháng tù, về tội “Trộm cắp tài sản”; chấp hành xong ngày 14/3/2018; Bị tạm giam từ ngày 19/12/2021 cho đến nay tại Nhà tạm giữ Công an thành phố Long Xuyên; có mặt. Bị hại: Bà Nguyễn Thị Như T, sinh năm 1984; nơi cư trú: số 7/9, khóm L 1, phường B, thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang; vắng mặt. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Bà Nguyễn Thị C, sinh năm 1992; nơi cư trú: số 430D, khóm A 4, phường X, thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang; có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 08 giờ 40 phút ngày 19/12/2021, Nguyễn Văn L điều khiển xe mô tô biển số 67C1-231.21 đến chợ Mỹ Bình, thành phố Long Xuyên để mua rau. Khi đi qua sạp rau của bà Phan Thị Phường, trên đường Ngọc Hân thuộc Khóm Bình Long 2, phường Mỹ Bình, thành phố Long Xuyên, Lượm phát hiện trong hộc xe bên phải, phía trước của xe mô tô nhãn hiệu Honda Scoopy, biển số 67B2-627.17 của bà Nguyễn Thị Như T đang dựng trên đường để mua rau, có để 01 điện thoại di dộng hiệu Iphone 11 ProMax-64Gb, màu xanh nên nảy sinh ý định chiếm đoạt. Để thực hiện ý định, Lượm điều khiển xe mô tô biển số 67C1-231.21 dựng bên cạnh xe của bà Thắm, Lượm lén lút dùng tay lấy trộm chiếc điện thoại của bà Thắm, rồi điều khiển xe mô tô tẩu thoát theo hướng đường Trần Hưng Đạo khoảng 05m thì bà Thắm phát hiện mất điện thoại và tri hô đuổi theo cùng anh Hồ Minh Hiếu bắt giữ Lượm giao cho Công an phường Mỹ Bình, thành phố Long Xuyên lập biên bản tiếp nhận người bị bắt trong trường hợp phạm tội quả tang.

- Vật chứng thu giữ và xử lý vật chứng: 01 điện thoại di dộng hiệu Iphone 11 ProMax-64Gb, màu xanh có gắn sim di dộng mạng Vinaphone, ốp lưng bằng nhựa dẻo, bên trong ốp lưng có 500.000 đồng, đã giao trả cho bà Nguyễn Thị Như T; 01 xe mô tô màu trắng – đen, biển số 67C1-231.21 đã giao trả cho bà Nguyễn Thị Cúc; 01 điện thoại di động hiệu Itel, đang còn tạm giữ để ử lý.

- Kết luận định giá tài sản số 224/KL-HĐĐG.TTHS ngày 19/12/2021 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Long Xuyên: 01 điện thoại di dộng hiệu Iphone 11 ProMax-64Gb, trị giá 10.684.000 đồng.

Ngày 22/12/2021, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Long Xuyên khởi tố, tạm giam Lượm, để điều tra xử lý.

Tại Cáo trạng số 14/CT-VKSLX-HS ngày 22 tháng 02 năm 2022, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Xuyên đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn L về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa,

- Bị cáo thừa nhận đã thực hiện hành vi phạm tội như nội dung Cáo trạng truy tố. Bị cáo không có ý kiến tranh luận với lời luận tội của Kiểm sát viên và xin Hội đồng xét xử xử phạt nhẹ.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án bà Nguyễn Thị Cúc cung cấp lời khai như trong giai đoạn điều tra.

- Kiểm sát viên trình bày lời luận tội: Giữ nguyên Quyết định truy tố bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Về hình phạt, đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Văn L từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù.

Về xử lý vật chứng, đề nghị áp dụng Điều 46, Điều 48 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự trả cho bị cáo Lượm 01 điện thoại di động hiệu Itel màu đen.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau: [1] Về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng, trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử, các quyết định, hành vi tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Long Xuyên, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Xuyên, Kiểm sát viên được thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục được pháp luật tố tụng hình sự quy định. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các quyết định, hành vi tố tụng do Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên thực hiện đúng quy định của pháp luật. [2] Về hành vi bị truy tố bị cáo, bị cáo khai nhận do không có tiền tiêu xài nên khoảng 08 giờ 40 phút ngày 19/12/2021, bị cáo phát hiện trong hộc xe bên phải, phía trước xe mô tô biển số 67B2-627.17 của bà Nguyễn Thị Như T đang dựng trên đường Ngọc Hân thuộc Khóm Bình Long 2, phường Mỹ Bình, thành phố Long Xuyên để mua rau, có để 01 điện thoại di dộng hiệu Iphone 11 ProMax-64Gb, màu xanh nên nảy sinh ý định chiếm đoạt. Để thực hiện hành vi, bị cáo điều khiển xe mô tô biển số 67C1-231.21 dựng bên cạnh xe của bà Thắm, để lén lút dùng tay chiếm đoạt chiếc điện thoại của bà Thắm, rồi điều khiển xe mô tô nhanh chóng tẩu thoát. Sau khi phát hiện điện thoại bị mất nên bà Thắm đã tri hô, đuổi theo và cùng với người dân bắt giữ bị cáo giao cho Công an phường Mỹ Bình, thành phố Long Xuyên lập biên bản tiếp nhận người bị bắt trong trường hợp phạm tội quả tang. Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo ở giai đoạn điều tra, truy tố; phù hợp với lời khai của bị hại; phù hợp với biên bản tiếp nhận người bị bắt trong trường hợp phạm tội quả tang do Cán bộ Công an phường Mỹ Bình, thành phố Long Xuyên lập ngày 19/12/2021; phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác gồm: biên bản khám nghiệm hiện trường cùng sơ đồ hiện trường, bản ảnh hiện trường kèm theo. Ngoài ra, lời khai của bị cáo còn phù hợp với vật chứng bị thu giữ là 01 điện thoại di dộng hiệu Iphone 11 ProMax-64Gb, màu xanh. Từ các chứng cứ trên, có cơ sở ác định, khi phát hiện bị hại sơ hở trong việc bảo quản tài sản, bị cáo đã lén lút chiếm đoạt điện thoại di dộng hiệu Iphone 11 ProMax-64Gb do bà Thắm quản lý, sử dụng. Về giá trị tài sản bị chiếm đoạt, theo Kết luận định giá tài sản số 224/KL-HĐĐG.TTHS ngày 19/12/2021 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Long Xuyên, 01 điện thoại di dộng hiệu Iphone 11 ProMax-64Gb, trị giá 10.684.000 đồng. Bị cáo có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi chiếm đoạt tài sản của bà Thắm là xâm phạm quyền sở hữu của người khác nhưng vẫn cố ý thực hiện thông qua việc lợi dụng sự sơ hở, thiếu cảnh giác trông coi tài sản của bị hại, để thực hiện hành vi chiếm đoạt, nhanh chóng mang tài sản đi nơi khác nhằm tránh sự phát hiện của bị hại và Cơ quan chức năng. Vì vậy, hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Cho nên, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Xuyên truy tố bị cáo ra trước phiên tòa hôm nay và lời buộc tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Xuyên tại phiên tòa là có căn cứ, đúng người, đúng tội và phù hợp với quy định của pháp luật.

Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội và nhân thân, quyền sở hữu là một trong những quyền thiêng liêng gắn với mỗi cá nhân, được pháp luật ghi nhận và bảo vệ. Trong lĩnh vực luật hình sự, những ai âm phạm đến quyền sở hữu của người khác, đáp ứng quy định của pháp luật hình sự sẽ bị áp dụng chế tài nghiêm khắc nhất là hình phạt.

Bị cáo là người đang ở tuổi lao động. Đáng lẽ, bị cáo phải tìm cho mình một công việc phù hợp để nuôi sống bản thân, gia đình nhưng vì hám lợi, bị cáo trộm cắp tài sản của người khác. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm đến quyền sở hữu của người khác mà còn gây mất trật tự trị an tại địa phương. Bên cạnh đó, khi phạm tội, bị cáo đang có 03 tiền sự do bị Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc 24 tháng, về hành vi “sử dụng trái phép chất ma túy” vào ngày 25/5/2018; bị Công an huyện Vĩnh Thạnh, thành phố Cần Thơ quyết định xử phạt vi phạm hành chính 1.500.000 đồng, về hành vi “tàng trữ trái phép chất ma túy” vào ngày 24/7/2020; bị Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường Mỹ Xuyên, thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại phường 03 tháng, về hành vi “sử dụng trái phép chất ma túy” vào ngày 09/6/2021 và đã 02 lần bị kết án về tội “Trộm cắp tài sản”; 03 lần bị đưa vào cơ sở chữa bệnh bắt buộc vào các ngày 12/8/2008, ngày 11/11/2009, ngày 20/02/2013. Điều này thể hiện bị cáo có nhân thân không tốt. Vì vậy, cần có hình phạt nghiêm, cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định, để đảm bảo mục đích răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, trong quá trình điều tra cũng như tại phiên toà hôm nay, bị cáo đã tỏ rõ thái độ thành khẩn khai báo, ăn năm hối cải. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1, Điều 51 Bộ luật Hình sự. Vì vậy, cần xem xét, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo khi lượng hình.

Về hình phạt bổ sung, do bị cáo không nghề nghiệp, thuộc thành phần lao động nghèo nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng:

- Trong giai đoạn điều tra, Cơ quan điều tra đã giao trả cho bị hại Nguyễn Thị Như T 01 điện thoại di dộng hiệu Iphone 11 ProMax-64Gb, màu xanh có gắn sim di dộng mạng Vinaphone, ốp lưng bằng nhựa dẻo, bên trong ốp lưng có 500.000 đồng; giao trả cho bà Nguyễn Thị Cúc 01 xe mô tô màu trắng – đen, biển số 67C1-231.21 là phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự, điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự nên không đề cập xử lý lại.

- Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Itel màu đen, do điện thoại này không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo. Xét, giao trả lại cho bị cáo điện thoại di động bị thu giữ theo điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. [7] Về trách nhiệm dân sự: Sau khi nhận lại tài sản bị chiếm đoạt cùng số tiền 500.000 đồng, bà Thắm không yêu cầu bị cáo bồi thường thiệt hại nên không đề cập giải quyết. [8] Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm. Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo theo quy định pháp luật tố tụng hình sự. Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ vào khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017; Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn L phạm tội “Trộm cắp tài sản”; Xử phạt: Nguyễn Văn L: 01 (một) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù của bị cáo được tính kể từ ngày bị tạm giam, ngày 19/12/2021 (ngày mười chín, tháng mười hai, năm hai nghìn không trăm hai mươi mốt). 2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào khoản 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017 và các điểm a, b khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Giao trả cho bị cáo Nguyễn Văn L: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Itel, màu đen. (Theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 04/3/2022 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Long Xuyên với Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Long Xuyên). 3. Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Buộc bị cáo Nguyễn Văn L phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ vào Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;

Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án bà Nguyễn Thị Cúc có quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh An Giang xét xử phúc thẩm.

Riêng thời hạn kháng cáo của bị hại vắng mặt là 15 ngày kể từ ngày bản án được giao hoặc được niêm yết theo quy định pháp luật.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ