vanban.org

Bản án 23/2022/HS-ST — Hình sự

TAND Q. Liên Chiểu, TP Đà Nẵng Tuyên án 12/04/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Các bị cáo Đặng H, Trần Phan L và Trần Việt Q phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt bị cáo: Đặng H 03 (ba) năm tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 08 tháng 10 năm 2021. Xử phạt bị cáo: Trần Phan L 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 08 tháng 10 năm 2021. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Đặng Hoàng và đồng phạm - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Các bị cáo Đặng H, Trần Phan L và Trần Việt Q phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
A
TÒA ÁN NHÂN DÂN
Q.LIÊN CHIỂU - TP. ĐÀ NẴNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 23/2022/HS-ST
Ngày: 12.4.2022

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN LIÊN CHIỂU, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trương Thị Hồng Thủy

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Toàn

2. Bà Dương Thị Mỹ Vinh

Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thái Trâm Anh – Cán bộ Tòa án nhân dân quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Bà Dương Thị Phương Dung - Kiểm sát viên.

Trong ngày 12 tháng 4 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng mở phiên tòa công khai xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 11/2022/HSST ngày 14 tháng 02 năm 2022 đối với các bị cáo:

1. Đặng H – Sinh ngày 25 tháng 6 năm 1982 tại Đà Nẵng; Nơi cư trú: Tổ 17, phường Chính Gián, quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 9/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Đặng Tấn Minh (chết) và bà Phạm Thị Phụng (Sn 1959); Gia đình có 04 anh em, bị cáo là con thứ nhất; Vợ là Phạm Thị Huyền Tr (Sn 1987). Con: Đặng Gia Huy (2009) và Đặng Gia Phát (2018).

Tiền án: Không.

Tiền sự: Ngày 20/7/2021, bị Công an Q. Thanh Khê, TP. Đà Nẵng xử phạt vi phạm hành chính về hành vi Trộm cắp tài sản với số tiền 1.500.000 đồng, theo Quyết định số 105/QĐ-XPHC.

Nhân thân: Ngày 28/4/2000, bị TAND Q. Thanh Khê, TP. Đà Nẵng xử phạt 15 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản theo Bản án số 21/HSST. Giấy ra trại số 305 ngày: 02/11/2000.

Bị cáo đang bị tạm giam từ ngày 08 tháng 10 năm 2021. Hiện đang tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng. Có mặt.

2. Trần Phan L - Sinh ngày 01 tháng 5 năm 1976 tại Đà Nẵng; Nơi cư trú: Tổ 29, phường Thanh Khê Tây, quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 9/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Trần Đình Truy (chết) và bà Phan Thị Kim Phương (1952); Gia đình có 04 anh em, Bị cáo là con thứ 03; Vợ tên Lê Thị Xuân T (1978); Có 02 con tên Trần Thanh Long (2008) và Trần Kim Ngân (2017).

Tiền án, Tiền sự: Không.

Nhân thân:

- Ngày 15/01/1994, bị Tòa phúc thẩm TAND Tối cao tại thành phố Đà Nẵng xử phạt 30 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích, Cưỡng đoạt tài sản” theo Bản án số 33/HSST.

- Ngày 22/6/2013, bị TAND quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng xử phạt 24 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo Bản án số 73/HSST.

Bị cáo bị tạm giam từ ngày 08 tháng 10 năm 2021. Hiện đang tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng, có mặt.

3. Trần Việt Q - Sinh ngày 28 tháng 5 năm 1991, tại tỉnh Quảng Nam. Nơi ĐKHKTT: Thôn Long Thạch Đông, xã Tam Hải, huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam. Chỗ ở: Phòng số 503, Nhà A, Khu chung cư Thanh Lộc Đán, phường Thanh Khê Đông, quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 4/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông (không xác định) và bà Trần Thị Thơm (1965); Gia đình có 03 anh em, Bị cáo là con thứ 03; Vợ con: Chưa.

Tiền án: Không.

Tiền sự: Ngày 23/4/2021, bị Công an phường Thanh Khê Đông, quận Thanh Khê xử phạt vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, theo Quyết định số 157/QĐ-XPHC. Hiện chưa chấp hành quyết định.

Nhân thân:

- Ngày 28/4/2005, Chủ tịch UBND quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào trường giáo dưỡng trong thời hạn 24 tháng.

- Ngày 02/11/2021, bị UBND phường Xuân Hà ra Quyết định đưa người nghiện ma túy không có nơ cư trú ổn định vào cơ sở xã hội Bàu Bàng trong thời gian làm thủ tục đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.

Bị cáo bị tạm giam từ ngày 05 tháng 11 năm 2021. Hiện đang tạm giam tại tại Nhà tạm giữ Công an quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng, có mặt.

* Bị hại:

- Bà Đinh Thị Hằng N – Sinh năm 1985; Trú tại: Tổ 24, phường Hòa Khánh Bắc, quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng. Vắng mặt, không có lý do.

- Ông Lê Công Ch - Sinh năm: 1999; Trú tại: 664 Tôn Đức Thắng, phường Hòa Khánh Bắc, quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng. Vắng mặt, không có lý do.

- Ông Hoàng Đình H – Sinh năm 1994; Trú tại: Số 196 Bắc Sơn, phường Hòa An, quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng. Vắng mặt, không có lý do.

- Bà Hồ Thị D – Sinh năm 1997; Trú tại: Số 455 Lưu Hữu Phước, phường An Hải Bắc, quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng. Có đơn xin xét xử vắng mặt.

* Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

- Bà Đặng Thị Ph – Sinh năm 1985; Trú tại: K58 H1/64 Võ Văn Tần, tổ 17, phường Chính Gián, quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng. Vắng mặt, không có lý do.

- Ông Nguyễn Đình Kh – Sinh năm 1982; Trú tại: K58 H1/64 Võ Văn Tần, tổ 17, phường Chính Gián, quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng. Vắng mặt, không có lý do.

- Bà Phạm Thị Huyền Tr – Sinh năm 1987; Trú tại: Số 19, Phạm Vấn, phường Mân Thái, quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng. Có mặt.

- Bà Đặng Thị Thu Th – Sinh năm 1985; Trú tại: Tổ 15, phường Chính Gián, quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng. Có mặt.

- Ông Nguyễn Duy Ph – Sinh năm 1983; Trú tại: K572/52 Ông Ích Khiêm, quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng. Có mặt.

- Bà Lê Thị Mỹ H - Sinh năm 1981; Trú tại: Tổ 39, phường Hòa Khê, quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng. Vắng mặt, không có lý do.

- Bà Lê Thị Xuân T – Sinh năm 1978; Tổ 29, phường Thanh Khê Tây, quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng.Có măt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Các bị cáo Đặng Hoàng, Trần Phan L và Trần Việt Q là những đối tượng nghiện ma túy đang điều trị thuốc tại cơ sở điều trị Methadone số 01, Q. Thanh Khê, Đà Nẵng. Sau khi uống thuốc tại đây thì Hoàng rủ Lộc hoặc Quốc rồi cùng đi trộm cắp tài sản lấy tiền tiên xài cá nhân. Quá trình điều tra, các bị cáo Đặng Hoàng, Trần Phan L và Trần Việt Q đã thực hiện 02 vụ trộm cắp tài sản tại địa bàn quận Liên Chiểu, Đà Nẵng như sau:

Vụ thứ nhất: Vào khoảng 11h00’ ngày 13/6/2021, Đặng H điều khiển xe mô tô hiệu Lead Biển kiểm soát 43E1-324.84 đến gặp Trần Phan L và rủ Lộc đi trộm cắp kiếm tiền tiêu xài cá nhân thì Lộc đồng ý. Hoàng điều khiển xe chở Lộc đi ngang qua cơ sở kinh doanh Nga Ngọc Khuê tại số 86 Giáp Văn Cương, P. Hòa Minh, nhìn thấy không có người trông coi nên Hoàng dừng xe trước cửa tiệm. Lộc đứng ngoài cảnh giới, còn Hoàng đi vào trong lấy trộm máy vi tính xách tay hiệu Lenovo của chị Đinh Thị Hằng N đang để trên bàn làm việc. Sau đó, Lộc điều khiển xe chở Hoàng tẩu thoát. Cả hai đến uống cà phê tại một quán gần đoạn giao nhau giữa đường sắt và đường Nam Trân. Khi Hoàng và Lộc mở máy vi tính ra xem thì có một người đàn ông (không rõ lai lịch) hỏi mua, Hoàng bán với giá 1.000.000 đồng (Một triệu đồng). Hoàng chia cho Lộc 500.000 đồng (Năm trăm ngàn đồng) cùng nhau tiên xài. (Tài sản hiện chưa thu hồi được).

* Theo Kết luận số: 55/KL-HĐĐG ngày 28/7/2021 của Hội đồng Định giá tài sản trong tố tụng quận Liên Chiểu, xác định: Giá trị sử dụng còn lại của 01 máy tính xách tay đã sử dụng màu đen nhãn hiệu Lenovo Model V130-15IKB, Core i5, Ram 8GB, HDD 1T, kích thước màng hình 15,6 inch là: 3.600.000 đồng.

Vụ thứ hai: Vào khoảng 09h00’ ngày 19/9/2021, Đặng H điều khiển xe mô tô hiệu Sirius Biển kiểm soát 43X4-4856 đến gặp Trần Việt Q và rủ Quốc đi trộm cắp kiếm tiền tiêu xài cá nhân thì Quốc đồng ý. Quốc điều khiển xe chở Hoàng đi ngang tư đèn xanh đèn đỏ Tôn Đức Thắng – Nguyễn Sinh Sắc thấy tiệm cắt tóc số 664 Tôn Đức Thắng không có người trông coi nên cả hai dừng xe trước cửa tiệm. Quốc đứng ngoài cảnh giới, còn Hoàng đi vào trong lấy trộm một điện thoại di động hiệu Iphone 11 của anh Lê Công Ch đang để trên bàn uống nước. Sau đó, Quốc điều khiển xe chở Hoàng tẩu thoát, đi tìm nơi tiêu thụ. Khi cả hai đến K572/52 Ông Ích Khiêm thì thấy biển hiệu thu mua điện thoại cũ nên Quốc đứng ngoài chờ còn Hoàng đi vào gặp anh Nguyễn Duy Ph để bán điện thoại. Anh Phong hỏi nguồn gốc điện thoại này, Hoàng trả lời là của bạn mình nhờ bán hộ. Anh Phong mua với giá 6.000.000 đồng (Sáu triệu đồng), mục đích bán linh kiện. Hoàng và Quốc cùng nhau tiên xài số tiền trên. (Tài sản đã thu hồi được).

* Theo Kết luận số: 62/KL-HĐĐG ngày 11/10/2021 của Hội đồng Định giá tài sản trong tố tụng quận Liên Chiểu, xác định: Giá trị sử dụng còn lại của 01 điện thoại di dộng nhãn hiệu Iphone 11 Promax, màu vàng, số Imei: 352855110577765 là 15.050.000 đồng.

Ngoài hai vụ trộm cắp tài sản trên, các bị cáo Đặng H và Trần Phan L còn thực hiện 02 vụ trộm cắp khác tại địa bàn quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng, cụ thể như sau:

Vụ thứ nhất: Khoảng 11h00 ngày 18/5/2021, các Trần Phan L và Đặng H sau khi đi uống thuốc tại cơ sở điều trị Methadone số 01 quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng, Hoàng rủ Lộc đi trộm cắp tài sản thì Lộc đồng ý. Hoàng điều khiển xe mô tô hiệu Honda Airblade, màu đỏ - trắng, gắn biển kiểm soát: 43D1-074.90 chở Lộc đi đến đường Bắc Sơn, phường Hòa An, quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng để tìm kiếm sơ hở của người dân thực hiện hành vi trộm cắp tài sản. Khi đến số nhà 196 Bắc Sơn, Lộc đứng bên ngoài cảnh giởi, còn Hoàng đi vào bên trong ngôi nhà này trộm cắp được 01 máy Laptop hiệu Dell Vostro 3578, màu đen của anh Hoàng Đình Hiếu. Sau khi trộm cắp được tài sản trên, Hoàng và Lộc nhanh chóng rời khỏi hiện trường và đem bán tại một tiệm sữa chữa điện thoại (chưa xác định được địa điểm) với số tiền 1.400.000 đ (Một triệu bốn trăm ngàn đồng). Số tiền có được cả hai chia nhau tiêu xài cá nhân hết. (Tài sản hiện chưa thu hồi được).

* Theo Kết luận số: 37/KL-HĐĐG ngày 07/7/2021 của Hội đồng Định giá tài sản trong tố tụng quận Cẩm Lệ, xác định: Giá trị sử dụng còn lại của 01 lap top hiệu Dell Vostro 3578, màu đen là 6.720.000 đồng.

Vụ thứ hai: Sau khi bán máy vi tính trộm được vào ngày 13/6/2021 tại số 86 Giáp Văn Cương, phường Hòa Minh, quận Liên Chiểu thì Trần Phan L và Đặng H tiếp tục đi tìm tài sản trộm cắp. Hoàng điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Lead, màu vàng nâu, gắn biển kiểm soát 43E1-324.84 chở Lộc đi tìm kiếm tài sản để trộm cắp. Cả hai đi về hướng bến xe trung tâm thành phố Đà Nẵng, rẽ vào đường Lê Thạch, phường Hòa An, quận Cẩm Lệ. Khi đến cửa hàng Thế Giới Bỉm (Địa chỉ: số 176 Lê Thạch, phường Hòa An, quận Cẩm Lệ) thấy không có người bên trong. Lúc này, Lộc đứng bên ngoài cảnh giới còn Hoàng đi vào bên trong cửa hàng trộm cắp được một máy Laptop hiệu Lenovo, màu đen và một điện thoại di động hiệu Oppo A7 của chị Hồ Thì Dang. Sau đó, Lộc chở Hoàng tẩu thoát, cả hai đến tiệm sữa chữa điện thoại di động tại số 138 Hồ Quý Ly, phường Hòa Minh, quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng bán tài sản trộm cắp trên cho chị Lê Thị Mỹ Huệ với giá 1.800.000 đ (Một triệu tám trăm ngàn đồng). Số tiền có được cả hai tiêu xài cá nhân hết. (Tài sản hiện chưa thu hồi được).

* Theo Kết luận số: 37/KL-HĐĐG ngày 07/7/2021 của Hội đồng Định giá tài sản trong tố tụng quận Cẩm Lệ, xác định: Giá trị sử dụng còn lại của 01 lap top hiệu Lenovo màu đen là 3.200.000 đồng và 01 điện thoại di dộng nhãn hiệu Oppo A7, màu vàng là 2.394.000 đồng.

* Tang vật tạm giữ:

- 01 (một) xe mô tô hiệu Lead Biển kiểm soát 43E1-324.84 do Đặng Thị Ph em gái của Đặng H làm chủ sở hữu (chị Phước mua lại xe mô tô trên của chị Phạm Thị Huyền Tr nhưng chưa làm thủ tục sang tên). Đặng H sử dụng xe để thực hiện hành vi trộm cắp tài sản nhưng chị Phước không biết. Ngày 17/12/2021, Cơ quan CSĐT Công an quận Liên Chiểu đã trả lại tài sản trên cho người liên quan chị Đặng Thị Ph theo Quyết định xử lý vật chứng số 01/CSĐT.

- 01 (một) điện thoại di dộng nhãn hiệu Iphone 11 Promax, màu vàng, số Imei: 352855110577765. Ngày 09/11/2021, Cơ quan CSĐT Công an quận Liên Chiểu đã trả lại toàn bộ tài sản trên cho người bị hại là anh Lê Công Ch theo Quyết định xử lý vật chứng số 69/CSĐT.

- 01 (một) xe mô tô hiệu Sirius Biển kiểm soát 43X4-4856, số khung: 1010KY153936, số máy: G3D4E920614 do Đặng Thị Thu Th là em ruột của Đặng H đứng tên chủ sở hữu. Đặng H sử dụng xe để thực hiện hành vi trộm cắp tài sản nhưng chị Thảo không biết. Ngày 17/12/2021, Cơ quan CSĐT Công an quận Liên Chiểu đã trả lại tài sản trên cho người liên quan chị Đặng Thị Thu Th theo Quyết định xử lý vật chứng số 02/CSĐT.

- Chuyển Chi cục Thi hành án dân sự Quận Liên Chiểu tạm thời quản lý: 01 (một) mô tô hiệu Honda Airblade, màu đỏ - trắng, gắn biển kiểm soát: 43D1-074.90, số khung: 744034, số máy 0794322 do Trần Phan L đứng tên chủ sở hữu, 01 (một) giấy đăng ký xe mô tô BKS 43D1-074.90 mang tên Trần Phan Lộc.

* Về dân sự:

- Bị hại chị Đinh Thị Hằng Nga, chị Hồ Thị Dang, anh Hoàng Đình H đã đã được chị Phạm Thị Huyền Tr (vợ bị cáo Đặng Hoàng) và chị Lê Thị Xuân T (vợ bị cáo Trần Phan Lộc) thỏa thuận bồi thường thiệt hại và không có yêu cầu gì thêm.

- Bị hại anh Lê Công Ch đã nhận lại tài sản trộm cắp và không yêu cầu gì thêm.

Tại Cáo trạng số 15/CT-VKS ngày 10 tháng 02 năm 2022 của Viện kiểm sát nhân dân quận Liên Chiểu đã truy tố các bị cáo Đặng Hoàng, Trần Phan L về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm a khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự và truy tố bị cáo Trần Việt Q về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố các bị cáo Đặng H, Trần Phan L và Trần Việt Q phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Áp dụng điểm a, khoản 2 Điều 173; Điểm b, s khoản 1 Điều 51; Điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Đặng H từ 3 năm đến 3 năm 6 tháng tù.

Áp dụng điểm a, khoản 2 Điều 173; Điểm b, s khoản 1 Điều 51; Điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Trần Phan L từ 2 năm 6 tháng đến 3 năm tù.

Áp dụng khoản 1 Điều 173; Điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Trần Việt Q từ 9 tháng đến 12 tháng tù.

* Về dân sự: Các bị hại bà Đinh Thị Hằng Nga, ông Lê Công Chiến, ông Hoàng Đình H và bà Hồ Thị D đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì khác nên đề nghị HĐXX không xem xét giải quyết.

* Về xử lý vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên

- Đối với 01 (một) xe mô tô hiệu Lead Biển kiểm soát 43E1-324.84 do Đặng Thị Ph em gái của Đặng H làm chủ sở hữu. Đặng H sử dụng xe để thực hiện hành vi trộm cắp tài sản nhưng chị Phước không biết. Ngày 17/12/2021, Cơ quan CSĐT Công an quận Liên Chiểu đã trả lại tài sản trên cho người liên quan chị Đặng Thị Ph nên đề nghị HĐXX không xem xét.

- Đối với 01 (một) điện thoại di dộng nhãn hiệu Iphone 11 Promax, màu vàng, số Imei: 352855110577765. Ngày 09/11/2021, Cơ quan CSĐT Công an quận Liên Chiểu đã trả lại toàn bộ tài sản trên cho người bị hại là anh Lê Công Ch , anh Chiến đã nhận lại tài sản và không có ý kiến gì nên đề nghị HĐXX không xem xét.

- Đối với 01 (một) xe mô tô hiệu Sirius Biển kiểm soát 43X4-4856, số khung: 1010KY153936, số máy: G3D4E920614 do Đặng Thị Thu Th là em ruột của Đặng H đứng tên chủ sở hữu. Đặng H sử dụng xe để thực hiện hành vi trộm cắp tài sản nhưng chị Thảo không biết. Ngày 17/12/2021, Cơ quan CSĐT Công an quận Liên Chiểu đã trả lại tài sản trên cho người liên quan chị Đặng Thị Thu Th nên đề nghị HĐXX không xem xét.

- Đối với 01 xe mô tô hiệu Honda Airblade, màu đỏ - trắng, gắn biển kiểm soát: 43D1-074.90, số khung: 744034, số máy 0794322 do Trần Phan L đứng tên chủ sở hữu, 01 (một) giấy đăng ký xe mô tô BKS 43D1-074.90 mang tên Trần Phan Lộc. Quá trình điều tra xác định đây là tài sản riêng của Lộc và Lộc sử dụng làm phương tiện phạm tội nên đề nghị Hội đồng xét xử tuyên tịch thu sung công quỹ Nhà nước.

Đối với bà Lê Thị Mỹ Huệ đã mua một máy Laptop hiệu Lenovo, màu đen và một điện thoại di động hiệu Oppo A7 do Đặng H bán nhưng bà Huệ không biết đây là tài sản do Hoàng trộm cắp mà có nên Cơ quan CSĐT không đề cập xử lý là có cơ sở.

Đối với ông Nguyễn Duy Ph đã mua một điện thoại di động hiệu Iphone 11 do Đặng H bán nhưng ông Phong không biết đây là tài sản do Hoàng trộm cắp mà có nên Cơ quan CSĐT không đề cập xử lý là có cơ sở.

Đối với đàn ông (chưa rõ lai lịch) đã mua máy vi tính xách tay hiệu Lenovo, và tiệm sữa chữa điện thoại (chưa xác định được địa điểm) đã mua 01 máy Laptop hiệu Dell Vostro 3578 do Đặng H và Trần Phan L bán, Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh, xử lý sau.

Đối với chị Đặng Thị Ph và Đặng Thị Thu Th cho bị cáo Đặng H mượn xe mô tô, nhưng chị Phước và chị Thảo không biết Hoàng dùng xe làm phương tiện để thực hiện hành vi trộm cắp nên Cơ quan CSĐT không đề cập xử lý là có cơ sở.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có tại hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến khiếu nại gì. Do đó, các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về tội danh: Tại phiên tòa các bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình phù hợp với nội dung bản Cáo trạng đã nêu. Lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa thống nhất với lời khai tại cơ quan điều tra, lời khai của bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan cùng với tang vật chứng đã thu giữ, cũng như các tài liệu, chứng cứ khác đã được thu thập có tại hồ sơ vụ án. Do đó, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ để kết luận:

Do cần tiền tiêu xài cá nhân, khoảng thời gian từ tháng 05.2021 đến tháng 09.2021, bị cáo Đặng H và Trần Phan L có sự phối hợp ăn ý, cấu kết chặt chẽ với nhau đã cùng nhau thực hiện 03 vụ trộm cắp tài sản là máy vi tính xách tay và điện thoại di động tại địa bàn quận Liên Chiểu và quận Cẩm Lệ với tổng giá trị tài sản chiếm đoạt là: 15.914.000 đồng (Mười lăm triệu chín trăm mười bốn ngàn đồng). Bị cáo Đặng H cùng bị cáo Trần Việt Q thực hiện 01 vụ trộm cắp tài sản là điện thoại di động tại địa bàn quận Liên Chiểu giá trị tài sản chiếm đoạt là 15.050.000 đồng (Mười lăm triệu không trăm năm mươi ngàn đồng).

Hành vi của các bị cáo Đặng Hoàng, Trần Phan L đã cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại điểm a khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự và hành vi của bị cáo Trần Việt Q đã cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự như Cáo trạng số 15/CT-VKS ngày 10 tháng 02 năm 2022 của Viện kiểm sát nhân dân quận Liên Chiểu đã truy tố là có căn cứ, đúng pháp luật.

Xét tính chất vụ án, vai trò, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo thì thấy:

Hội đồng xét xử xác định, các bị cáo Đặng Hoàng, Trần Phan L tham gia thực hiện hành vi phạm tội có tuy không có sự bàn bạc trước nhưng qua 03 lần thực hiện hành vi phạm tội các bị cáo đã ngầm mặc định có sự phân công nhiệm vụ cụ thể, rõ ràng, có sự cấu kết chặt chẽ với nhau. Thể hiện cả ba vụ trộm cắp tài sản, bị cáo Hoàng đều là người chủ mưu giữ vai trò chính, trực tiếp tiếp cận tài sản để chiếm đoạt còn bị cáo Lộc làm nhiệm vụ đứng ngoài cảnh giới và điều khiển xe để chở Hoàng nhanh chóng tẩu thoát tìm nơi tiêu thụ, chia nhau tiêu xài nên hành vi của các bị cáo là thuộc trường hợp đồng phạm có tổ chức. Ngoài ra, Đặng H còn rủ Trần Việt Q thực hiện 01 vụ trộm cắp tài sản với phương thức tương tự. Hành vi phạm tội của các bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội, nhận thức rõ tài sản thuộc quyền sở hữu của công dân được Nhà nước bảo vệ, mọi hành vi xâm phạm trái pháp luật đều bị xử lý. Song vì động cơ vụ lợi, muốn có tiền tiêu xài nên các bị cáo đã thực hiện hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản của người khác giữa ban ngày, ngay trong khu vực dân cư thể hiện sự liều lĩnh, xem thường pháp luật.

Về vai trò của các bị cáo thì thấy: Trong vụ án này, bị cáo Đặng H là người chủ mưu, chủ động rủ rê bị cáo Lộc và bị cáo Quốc đi thực hiện 04 vụ trộm cắp tài sản với tổng giá trị chiếm đoạt là 30.964.000 đồng. Bản thân bị cáo Hoàng có 01 tiền sự: Ngày 20/7/2021, bị Công an Q. Thanh Khê, TP. Đà Nẵng xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Trộm cắp tài sản” với số tiền 1.500.000 đồng và có nhân thân xấu: Ngày 28/4/2000, bị TAND Q. Thanh Khê, TP. Đà Nẵng xử phạt 15 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.

Bị cáo Trần Phan L là đồng phạm giúp sức tích cực, đứng ngoài cảnh giới cho bị báo Hoàng thực hiện 03 vụ trộm cắp tài sản với giá trị chiếm đoạt là 15.914.000 đồng và có nhân thân xấu: Ngày 15/01/1994, bị TAND TP. Đà Nẵng xử phạt 30 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích, Cưỡng đoạt tài sản” và ngày 22/6/2013, bị TAND Q. Thanh Khê, TP. Đà Nẵng xử phạt 24 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Đối với bị cáo Trần Việt Q cũng là đồng phạm giúp sức cho bị cáo Hoàng, đứng ngoài cảnh giới, chở bị cáo Hoàng nhanh chóng tẩu thoát và tìm nơi tiêu thụ tài sản trộm cắp có giá trị chiếm đoạt là 15.050.000 đồng. Bản thân bị cáo có 01 tiền sự và nhân thân xấu về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy.

Căn cứ vai trò, nhân thân của từng bị cáo, Hội đồng xét xử quyết định cho các bị cáo mức hình phạt tương xứng.

Xét về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của từng bị cáo:

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo Đặng H và Trần Phan L nhiều lần thực hiện hành vi trộm cắp tài sản nên thuộc trường hợp “Phạm tội 02 lần trở lên” quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Bị cáo Trần Việt Q không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Hội đồng xét xử xét thấy, trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay, các bị cáo Hoàng, Lộc đã tự nguyên bồi thường, khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải nên cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự cho các bị cáo để xem xét mức hình phạt khi lượng hình; Bị cáo Quốc phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải nên được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

Căn cứ tính chất, mức độ hành vi phạm tội cũng như nhân thân của các bị cáo như đã phân tích nêu trên, Hội đồng xét xử xét thấy cần phải cách ly các bị cáo Hoàng, Lộc và Việt ra khỏi xã hội một thời gian để các bị cáo có điều kiện cải tạo dưới dự giám sát của pháp luật mới đảm bảo tính răn đe đối với các bị cáo và phòng ngừa chung đối với xã hội.

Đối với bà Lê Thị Mỹ Huệ (SN: 1981, TT: tổ 39, P. Hòa Khê, Q. Thanh Khê, Đà Nẵng) đã mua một máy Laptop hiệu Lenovo, màu đen và một điện thoại di động hiệu Oppo A7 do Đặng H bán nhưng bà Huệ không biết đây là tài sản do Hoàng trộm cắp mà có nên Cơ quan CSĐT không đề cập xử lý là có cơ sở.

Đối với ông Nguyễn Duy Ph đã mua một điện thoại di động hiệu Iphone 11 do Đặng H bán nhưng ông Phong không biết đây là tài sản do Hoàng trộm cắp mà có nên Cơ quan CSĐT không đề cập xử lý là có cơ sở.

Đối với đàn ông (chưa rõ lai lịch) đã mua máy vi tính xách tay hiệu Lenovo, và tiệm sữa chữa điện thoại (chưa xác định được địa điểm) đã mua 01 máy Laptop hiệu Dell Vostro 3578 do Đặng H và Trần Phan L bán, Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh, xử lý sau là có cơ sở.

Đối với chị Đặng Thị Ph và Đặng Thị Thu Th cho bị cáo Đặng H mượn xe mô tô, nhưng chị Phước và chị Thảo không biết Hoàng dùng xe làm phương tiện để thực hiện hành vi trộm cắp nên Cơ quan CSĐT không đề cập xử lý là có cơ sở.

Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 173 của Bộ luật hình sự thì người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000đồng đến 50.000.000đồng. Xét thấy các bị cáo hoàn cảnh kinh tế khó khăn, không có nghề nghiệp ổn định và không có tài sản riêng có giá trị nên không cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.

Xét nội dung đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Liên Chiểu về tội danh, điều khoản luật và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo tại phiên tòa cơ bản phù hợp nhận định của Hội đồng xét xử nên cần chấp nhận.

Về xử lý vật chứng:

- Đối với 01 (một) xe mô tô hiệu Lead Biển kiểm soát 43E1-324.84 do Đặng Thị Ph em gái của Đặng H làm chủ sở hữu. Đặng H sử dụng xe để thực hiện hành vi trộm cắp tài sản nhưng chị Phước không biết nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Liên Chiểu đã trả lại tài sản cho chị Phước là phù hợp.

- Đối với 01 (một) điện thoại di dộng nhãn hiệu Iphone 11 Promax, màu vàng, số Imei: 352855110577765 thuộc sở hữu của bị hại anh Lê Công Ch nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Liên Chiểu đã trả lại cho bị hại là phù hợp.

- Đối với 01 (một) xe mô tô hiệu Sirius Biển kiểm soát 43X4-4856, số khung: 1010KY153936, số máy: G3D4E920614 do Đặng Thị Thu Th là em ruột của Đặng H đứng tên chủ sở hữu. Đặng H sử dụng xe để thực hiện hành vi trộm cắp tài sản nhưng chị Thảo không biết nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Liên Chiểu đã trả lại tài sản cho chị Thảo là phù hợp.

- Đối với 01 (một) xe gắn máy hai bánh; Honda Airblade, màu đỏ - trắng, gắn biển kiểm soát: 43D1-074.90, số khung: 744034, số máy 0794322 do Trần Phan L đứng tên chủ sở hữu, 01 (một) giấy đăng ký xe mô tô BKS 43D1-074.90 mang tên Trần Phan Lộc. Đây là tài sản riêng của Lộc và bị cáo sử dụng làm phương tiện thực hiện hành vi phạm tội nên tuyên tịch thu sung công quỹ nhà nước toàn bộ chiếc xe nêu trên như đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát là phù hợp.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại bà Đinh Thị Hằng Nga, bà Hồ Thị D và ông Hoàng Đình H đã được chị Phạm Thị Huyền Tr (vợ bị can Đặng Hoàng) và chị Lê Thị Xuân T (vợ bị can Trần Phan Lộc) thỏa thuận bồi thường thiệt hại và không có yêu cầu gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Bị hại anh Lê Công Ch đã nhận lại tài sản trộm cắp và không yêu cầu gì thêm.

Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án: Buộc các bị cáo Hoàng, Lộc, Việt mỗi người phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố: Các bị cáo Đặng H, Trần Phan L và Trần Việt Q phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

- Căn cứ điểm a, khoản 2 Điều 173; Điểm b, s khoản 1 Điều 51; Điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo: Đặng H 03 (ba) năm tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 08 tháng 10 năm 2021.

- Căn cứ điểm a, khoản 2 Điều 173; Điểm b, s khoản 1 Điều 51; Điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo: Trần Phan L 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 08 tháng 10 năm 2021.

- Căn cứ khoản 1 Điều 173; Điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo: Trần Việt Q 01 (một) năm tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 05 tháng 11 năm 2021.

2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, tuyên: Tịch thu sung công quỹ nhà nước 01 chiếc xe gắn máy hai bánh; Nhãn hiệu: Honda Airblade, màu đỏ - trắng, gắn biển kiểm soát: 43D1-074.90, số khung: 744034, số máy 0794322 do Trần Phan L đứng tên chủ sở hữu, 01 (một) giấy đăng ký xe mô tô BKS 43D1-074.90 mang tên Trần Phan Lộc.

(Toàn bộ tang vật trên hiện đang tạm giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Liên Chiểu theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 15.3.2022).

3. Về án phí: Căn cứ vào Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điểm a, khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án. Xử buộc các bị cáo Hoàng, Lộc và Quốc mỗi người phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Quyền kháng cáo đối với bản án: Các bị cáo, bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Riêng những bị hại, những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ