- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Minh H và đồng phạm bị truy tố về tội "Trộm cắp tài sản" theo quy định khoản 1 Điều 173 của BLHS - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 17…"
- Tòa quyết gì? [1]. Tuyên bố: các bị cáo Nguyễn Minh H, Trần Anh D và Hoàng Nhật Y phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 1 Nghị quyết số 41/2017/QH14 Về việc thi hành Bộ luật Hình sự…; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 52 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH CỬU TỈNH ĐỒNG NAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 23/2022/HS-ST. Ngày: 24/02/2022. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH CỬU, TỈNH ĐỒNG NAI
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Võ Xuân Sơn
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Vũ Thị Hảo
- Bà Trần Thị Hoa
Thư ký phiên tòa: bà Đinh Thanh Hải– Thư ký Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: bà Nguyễn Thị Thùy – Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 02 năm 2022, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 15/2022/TLST-HS ngày 26 tháng 01 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số:14/2022/QĐXXST-HS ngày 14/02/2022 đối với các bị cáo:
Nguyễn Minh H (tên thường gọi: không có), sinh ngày 02 tháng 3 năm 1994; tại: tỉnh Đồng Nai; nơi cư trú: Ấp B, xã V, huyện C, tỉnh Đồng Nai; nghề nghiệp: không; trình độ văn hóa: 06/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: Đạo Thiên Chúa; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Đình H, sinh năm: 1954 (còn sống) và bà Trần Thị C, sinh năm: 1955 (còn sống); gia đình bị cáo có 05 anh chị em, bị cáo là con thứ năm trong gia đình và chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: không; nhân thân: tốt; bị cáo bị bắt, tạm giữ từ ngày 27/11/2021 theo Lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp số 2978 của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai chuyển tạm giam cho đến nay. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Cơ quan quản lý tạm giữ, tạm giam Công an huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai (có mặt).
Trần Anh D (tên thường gọi: Dũng Nho), sinh ngày 10 tháng 02 năm 1989; tại: tỉnh Hà Nam; nơi cư trú: Tổ 4, ấp B, xã V, huyện C, tỉnh Đồng Nai; nghề nghiệp: không; trình độ văn hóa: 06/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: Đạo Thiên Chúa; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Xuân N (đã chết) và bà Trần Thị N, sinh năm: 1944 (còn sống); gia đình bị cáo có 06 anh chị em, bị cáo là con thứ sáu trong gia đình và chưa có vợ, con; tiền án: có 01 tiền án. Ngày 27/10/2015, bị Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai xử phạt 05 năm tù về tội “Cố ý gây thương tích”, bị cáo phải bồi thường cho bị hại số tiền 10.145.000 đồng; bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 507.250 đồng án phí dân sự sơ thẩm. Bị cáo đã nộp án phí hình sự sơ thẩm và dân sự sơ thẩm, trách nhiệm dân sự bị cáo chưa bồi thường; tiền sự: không; nhân thân: ngày 30/9/2010, bị Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai xử phạt 02 năm 06 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích” (đã xóa án tích); bị cáo bị tạm giữ từ ngày 27/11/2021 theo Quyết định tạm giữ số 2985, chuyển tạm giam cho đến nay. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Cơ quan quản lý tạm giữ, tạm giam Công an huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai (có mặt).
Hoàng Nhật Y (tên thường gọi: không có), sinh ngày 11 tháng 5 năm 1998; tại: tỉnh Nghệ An; nơi cư trú: Tổ 3, ấp H, xã V, huyện C, tỉnh Đồng Nai; nghề nghiệp: không; trình độ văn hóa: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hoàng Sỹ V, sinh năm: 1971 (còn sống) và bà Thạch Thị T, sinh năm: 1975 (còn sống); gia đình bị cáo có 02 anh em, bị cáo là con thứ nhất trong gia đình và chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: không; bị cáo bị tạm giữ từ ngày 27/11/2021 theo Quyết định tạm giữ số 2986, chuyển tạm giam cho đến nay. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Cơ quan quản lý tạm giữ, tạm giam Công an huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai (có mặt).
*Bị hại: anh Nguyễn Văn P, sinh năm: 1980 (xin vắng mặt).
Địa chỉ: B2, Tầng 8, chung cư Phúc Lộc Thọ, Số 35, đường Lê Văn Chí, Khu phố B, phường L, thành phố Đ, Thành phố Hồ Chí Minh.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: ông Nguyễn Đình H, sinh năm: 1954 (vắng mặt).
Địa chỉ: Ấp B, xã V, huyện C, tỉnh Đồng Nai.
* Người chứng kiến:
1. Anh Lê Thanh B, sinh năm: 1991 (không triệu tập);
Địa chỉ: Tổ 13, Ấp B, xã V, huyện C, tỉnh Đồng Nai.
2. Anh Đinh Văn T, sinh năm: 1993 (không triệu tập);
Địa chỉ: Tổ 16, Ấp B, xã V, huyện C, tỉnh Đồng Nai.
* Hội đồng định giá tài sản tố tụng hình sự huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai:
- Ông Trần Gia S – Chủ tịch Hội đồng (không triệu tập);
- Ông Nguyễn Trần Phước L – Phó Chủ tịch Hội đồng (không triệu tập);
- Ông Phan Thanh Đ - Thành viên (không triệu tập);
- Ông Trần Tuấn K – Thành viên (không triệu tập);
- Ông Trương Tấn L – Thành viên (không triệu tập).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Minh H, Hoàng Nhật Y, Trần Anh D là những đối tượng không có nghề nghiệp ổn định và có sử dụng ma túy. Từ ngày 21/11/2021 đến ngày 25/11/2021, H nhiều lần rủ D và Y đột nhập vào nhà anh Nguyễn Văn P tại tổ 15, ấp B, xã V, huyện C, tỉnh Đồng Nai trộm cắp tài sản, cụ thể:
Lần thứ nhất: Khoảng 10 giờ ngày 21/11/2021, H rủ Y đi trộm cắp tài sản thì Y đồng ý. Sau đó, H điều khiển xe mô tô biển số 51Y1 - 4412 chở Y đến nhà anh P, để xe ngoài đường rồi đi vào nhà. H và Y thấy 01 máy bơm nước hiệu Super Win 03 HP để ở góc sân phía trước nhà anh P (không kết nối điện và hệ thống dây dẫn nước) nên lấy trộm rồi đem về nhà H tại Ấp B, xã V, huyện C cất giấu.
Lần thứ hai: Khoảng 18 giờ 30 phút ngày 22/11/2021, H điều khiển xe mô tô biển số 51Y1 - 4412 đến nhà D tại tổ 7, Ấp H, xã V, huyện C rủ D đi trộm cắp tài sản thì D đồng ý. Cả hai đi xe mô tô của H đến nhà anh P, đi vào trong, rồi đột nhập phòng khách lấy trộm 01 bếp ga hiệu Rinnai RV-740A, 01 bình ga hiệu Gia đình gas, 01 nồi cơm điện hiệu Panasonic, 01 máy lạnh hiệu Panasonic. Sau đó, H đem máy lạnh về nhà cất giấu, còn bếp ga, bình gas, nồi cơm điện thì H và D đem đến nhà Đinh Văn T tại Tổ 16, Ấp B, xã V, huyện C cất giấu. Trước khi đi H có gọi điện cho T xin để nhờ tài sản thì T đồng ý.
Lần thứ ba: Khoảng 19 giờ ngày 23/11/2021, H tiếp tục điều khiển xe mô tô biển số 51Y1- 4412 chở D đến nhà anh P, đi vào phòng bên trái phía sau phòng khách lấy trộm 03 cuộn dây xịt thuốc trừ sâu hiệu Dekton rồi chở về nhà D cất giấu.
Lần thứ tư: Khoảng 19 giờ ngày 25/11/2021, H tiếp tục rủ D đến nhà anh P đào trộm cây mai. Cả hai điều khiển xe mô tô của H đến nhà Lê Thanh B, sinh năm 1991, trú tại: Tổ 13, Ấp B, xã V, huyện C nhờ B chở đi. Khi gần đến nhà anh P, H và D nói B dừng xe rồi cả hai đi bộ vào nhà anh P. Khi đến nơi H và D lấy 01 cây cuốc và 01 cây xà beng có sẵn trong nhà anh P rồi thay nhau đào cây mai, được một lúc thấy mệt và do gốc mai quá lớn nên cả hai thống nhất không đào nữa và đi bộ ra đường gọi điện nhờ B đến chở về.
Đến 08 giờ 15 phút ngày 26/11/2021, anh P từ Thành phố Hồ Chí Minh về nhà thuộc Tổ 15, Ấp B, xã V, huyện C, tỉnh Đồng Nai phát hiện mất trộm tài sản đã đến Công an xã V, huyện C trình báo. Qua xác minh truy xét ngày 27/11/2021, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Vĩnh Cửu phối hợp với Công an xã V, huyện C đã phát hiện và bắt giữ khẩn cấp Nguyễn Minh H, Trần Anh D, Hoàng Nhật Y cùng tang vật. Tại Cơ quan điều tra, H, D, Y đã khai nhận hành vi trộm cắp tài sản như trên.
* Tang vật tài sản tạm giữ:
- 01 máy bơm nước hiệu Super Win loại 03 HP;
- 01 bếp gas hiệu Rinnai RV-740A;
- 01 bình gas hiệu Gia đình gas;
- 01 nồi cơm điện hiệu Panasonic;
- 01 máy lạnh hiệu hiệu Panasonic;
- 03 cuộn dây xịt thuốc trừ sâu hiệu Dekton;
- 01 xe mô tô biển số 51Y1- 4412
* Tại Kết luận định giá tài sản số 91/KL-ĐGTS ngày 30/11/2021 của Hội đồng định giá tài sản tố tụng huyện Vĩnh Cửu kết luận:
- 01 máy bơm nước hiệu Super Win loại 03 HP, mua năm 2018 trị giá 2.000.000 đồng;
- 01 bếp gas lớn hiệu Rinnai RV-740A mua năm 2017 trị giá 300.000 đồng;
- 01 bình gas lớn hiệu Gia đình gas, mua năm 2017 trị giá 150.000 đồng.
- 01 nồi cơm điện hiệu Panasonic, mua năm 2020 trị giá 500.000 đồng;
- 01 bộ máy lạnh hiệu Panasonic, mua năm 2011 trị giá 2.500.000 đồng;
- 03 cuộn dây nhựa xịt thuốc trừ sâu hiệu Dekton (cuộn 50m) trị giá 1.200.000 đồng.
Tổng giá trị tài sản là: 6.650.000 đồng.
* Về xử lý tang vật, tài sản tạm giữ: Cơ quan điều tra đã giao trả anh Nguyễn Văn P toàn bộ tài sản bị chiếm đoạt nêu trên. Đối với xe mô tô biển số 51Y1 - 4412 do ông Đặng Văn L, sinh năm 1954 ngụ 7/27, Ấp B, xã Đ, huyện H, TP. T đứng tên sở hữu. Năm 2011, ông L bán lại cho người khác, khi bán có làm giấy tay. Tuy nhiên do thời gian đã lâu, ông L không còn nhớ bán cho ai. Ngày 10/10/2017, ông Nguyễn Đình H (cha H) mua xe của Vũ Ngọc D tại Tiệm cầm đồ T với giá 4.000.000 đồng. Việc H sử dụng xe mô tô trên đi trộm cắp tài sản, ông H không biết. Qua xác minh xe không có trong cơ sở dữ liệu xe máy vật chứng. Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Vĩnh Cửu đã giao trả xe cho ông H.
* Về trách nhiệm dân sự: anh Nguyễn Văn P đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bồi thường thiệt hại về dân sự.
* Cáo trạng số 26/CT-VKS-KSHS ngày 25 tháng 01 năm 2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai truy tố bị cáo Nguyễn Minh H, Hoàng Nhật Y và Trần Anh D về tội "Trộm cắp tài sản" theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 (từ đây gọi tắt là Bộ luật Hình sự năm 2017).
* Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai giữ nguyên quan điểm truy tố, không thay đổi, bổ sung, rút quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt các bị cáo:
- Nguyễn Minh H mức án từ 12 tháng tù đến 14 tháng tù;
- Trần Anh D mức án từ 10 tháng tù đến 12 tháng tù;
- Hoàng Nhật Y mức án từ 06 tháng tù đến 08 tháng tù;
Về xử lý tang vật, tài sản tạm giữ: Cơ quan điều tra đã giao trả anh Nguyễn Văn P. Xe mô tô biển số 51Y1 - 4412, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Vĩnh Cửu đã giao trả xe cho ông H nên đề nghị không xem xét.
Về trách nhiệm dân sự: anh Nguyễn Văn P đã nhận lại tài sản và không yêu cầu gì thêm nên đề nghị không xem xét.
Đối với Đinh Văn T cho H và D để nhờ bếp gas, bình gas, nồi cơm điện nhưng không biết đó là tài sản trộm cắp nên không phạm tội “Chứa chấp tài sản do người khác phạm tội mà có”.
Đối với Lê Thanh B có hành vi chở Trần Anh D và Nguyễn Minh H vào nhà anh P nhưng không biết D và H đi trộm cắp tài sản nên không đồng phạm phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
* Ý kiến tự bào chữa của bị cáo Nguyễn Minh H: bị cáo không có tranh luận.
* Ý kiến tự bào chữa của bị cáo Trần Anh D: bị cáo không có tranh luận.
* Ý kiến tự bào chữa của bị cáo Hoàng Nhật Y: bị cáo không có tranh luận.
* Bị cáo Nguyễn Minh H nói lời sau cùng: xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
* Bị cáo Hoàng Nhật Y nói lời sau cùng: xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt để bị cáo sớm đoàn tụ với gia đình.
* Bị cáo Trần Anh D nói lời sau cùng: xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt để bị cáo sớm đoàn tụ với gia đình.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Minh H, Trần Anh D và Hoàng Nhật Y có mặt, bị hại anh Nguyễn Hoài P, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án ông Nguyễn Đình H vắng mặt. Căn cứ Điều 292 của Bộ luật Tố tụng hình sự Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án.
[2]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Vĩnh Cửu, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Cửu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, người tham gia tố tụng khác không người nào có ý kiến hoặc khiếu nại hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.
. Về tội danh: trong quá trình tố tụng và tại phiên tòa, các bị cáo Nguyễn Minh H, Hoàng Nhật Y và Trần Anh D đã khai và thừa nhận hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận của các bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, biên bản khám nghiệm hiện trường, sơ đồ hiện trường, bản ảnh hiện trường, kết luận định giá tài sản và các tài liệu, chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, thể hiện: khoảng 10 giờ ngày 21/11/2021, tại Tổ 15, Ấp B, xã V, huyện C, tỉnh Đồng Nai, lợi dụng nhà anh Nguyễn Văn P không có người trông coi, Nguyễn Minh H, Hoàng Nhật Y đã lén lút chiếm đoạt 01 máy bơm nước hiệu Super Win 03 HP trị giá 2.000.000 đồng; ngày 21/11/2021 và ngày 23/11/2021, Nguyễn Minh H rủ Trần Anh D tiếp tục lén lút vào nhà anh Nguyễn Văn P chiếm đoạt 01 bếp gas hiệu Rinnai RV-740A, 01 bình gas lớn hiệu Gia đình gas, 01 nồi cơm điện hiệu Panasonic, 01 máy lạnh hiệu Panasonic, 03 cuộn dây xịt thuốc trừ sâu hiệu Dekton, có tổng giá trị giá tài sản chiếm đoạt là 4.650.000 đồng.
. Xét thấy, các bị cáo Nguyễn Minh H, Hoàng Nhật Y và Trần Anh D là người đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức được việc lén lút chiếm đoạt tài sản của người khác là vi phạm pháp luật nhưng để có tiền tiêu xài, các bị cáo đã lợi dụng nhà của anh P không có người trông coi, đã nhiều lần thực hiện hành vi đột nhập vào nhà và chiếm đoạt của P nhiều tài sản có giá trị 6.650.000 đồng. Trong đó, mỗi bị cáo chịu trách nhiệm với giá trị tài sản chiếm đoạt cụ thể: Nguyễn Minh H 6.650.000 đồng, Hoàng Nhật Y 2.000.000 đồng và Trần Anh D 4.650.000 đồng. Như vậy, hành vi của các bị cáo Nguyễn Minh H, Hoàng Nhật Y và Trần Anh D đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2017 như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai truy tố.
. Khi quyết định hình phạt Hội đồng xét xử có xem xét:
. Về tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội: hành vi của các bị cáo được quy định là ít nghiêm trọng, là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, làm ảnh hưởng đến trật tự trị an, gây bất bình trong quần chúng nhân dân tại địa phương. Khi thực hiện tội phạm, các bị cáo cố ý cùng nhau thực hiện tội phạm. Trong đó bị cáo H là người khởi xướng, rủ rê, thực hành tích cực nên phải chịu trách nhiệm cao nhất, bị cáo D và Y đều thực hiện với vai trò giúp sức, nhưng bị cáo D chiếm đoạt tài sản có giá trị lớn hơn nên phải chịu trách nhiệm hình sự cao hơn bị cáo Y.
. Về nhân thân các bị cáo: Nguyễn Minh H, Hoàng Nhật Y có nhân thân tốt thể hiện tại thời điểm phạm tội chưa có tiền án, tiền sự; bị cáo Trần Anh D có nhân thân xấu, ngày 30/9/2010, bị Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai xử phạt 02 năm 06 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích” (đã xóa án tích).
.Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình tố tụng các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cảinên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2017; riêng bị cáo Nguyễn Minh H, Hoàng Nhật Y mới phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, tài sản bị chiếm đoạt đã được thu hồi trả lại cho bị hại nên được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2017; bị cáo Trần Anh D phạm tội thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, tài sản bị chiếm đoạt đã được thu hồi trả lại cho bị hại nên được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2017.
. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: bị cáo Nguyễn Minh H có 01 tình tiết tăng nặng “Phạm tội 02 lần trở lên” quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự năm 2017; bị cáo Trần Anh D có 01 tình tiết tăng nặng “Tái phạm” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự năm 2017; bị cáo Hoàng Nhật Y không có tình tiết tăng nặng;
. Trên cơ sở đó, Hội đồng xét xử căn cứ quy định của Bộ luật Hình sự năm 2017 quyết định áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với các bị cáo nhằm răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.
. Về xử lý vật chứng: Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai đã trả lại anh Nguyễn Văn P. Xe mô tô biển số 51Y1 - 4412 Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai đã trả lại cho ông Nguyễn Đình H nên không xem xét.
. Về biện pháp tư pháp, trách nhiệm dân sự: anh Nguyễn Văn P đã nhận lại tài sản bị chiếm đoạt, không yêu cầu bồi thường về dân sự nên không xem xét.
. Đối với Đinh Văn T cho H và D để nhờ bếp gas, bình gas, nồi cơm điện nhưng không biết đó là tài sản trộm cắp nên không phạm tội “Chứa chấp tài sản do người khác phạm tội mà có” nên không xem xét.
. Đối với Lê Thanh B có hành vi chở Nguyễn Minh H và Trần Anh D vào nhà anh P nhưng không biết D và H đi trộm cắp tài sản nên không đồng phạm phạm tội “Trộm cắp tài sản” nên không xem xét.
. Về án phí: căn cứ khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 21, khoản 1 Điều 22, điểm a khoản 1 Điều 23, Điều 47 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội và tiểu mục 1 mục I phần A Danh mục án phí, lệ phí Tòa án ban hành kèm theo Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, mỗi bị cáo Nguyễn Minh H, Trần Anh D và Hoàng Nhật Y phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
. Xét quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 45, 46, 106, 250, 254, 255, 259, 260, 262, khoản 1 Điều 268, khoản 1 Điều 269, các Điều 298, 299, 326, 327, 329, 331, 333, 336, 337, 339 và Điều 509 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm b khoản 1, khoản 2 Điều 1, Điều 4, khoản 1 Điều 5 của Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc Hội.
[1]. Tuyên bố: các bị cáo Nguyễn Minh H, Trần Anh D và Hoàng Nhật Y phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
[2]. Về điều luật áp dụng và hình phạt:
[2.1]. Đối với bị cáo Nguyễn Minh H: căn cứ khoản 1 Điều 173, điểm đ khoản 1 Điều 32, Điều 38, 50, điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2017;điểm a khoản 1 Điều 1, Điều 4 của Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc Hội. Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Minh H 08 (tám) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 27/11/2021.
[2.2]. Đối với bị cáo Trần Anh D: căn cứ khoản 1 Điều 173, điểm đ khoản 1 Điều 32, Điều 38, 50, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 53, 58 của Bộ luật Hình sự năm 2017; điểm a khoản 1 Điều 1, Điều 4 của Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc Hội. Xử phạt: Bị cáo Trần Anh D 08 (tám) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 27/11/2021.
[2.3]. Đối với bị cáo Hoàng Nhật Y: căn cứ khoản 1 Điều 173, điểm đ khoản 1 Điều 32, Điều 38, 50, điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 54, 58 của Bộ luật Hình sự năm 2017; điểm a khoản 1 Điều 1, Điều 4 của Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc Hội. Xử phạt: Bị cáo Hoàng Nhật Y 04 (bốn) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 27/11/2021.
[2.4]. Tiếp tục tạm giam các bị cáo Nguyễn Minh H, Trần Anh D và Hoàng Nhật Y để bảo đảm thi hành án.
[3]. Về xử lý vật chứng: Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai đã xử lý nên không xem xét.
[4].Về biện pháp tư pháp, trách nhiệm dân sự: anh Nguyễn Văn P đã nhận lại tài sản bị chiếm đoạt, không yêu cầu bồi thường về dân sự nên không xem xét.
[5]. Về án phí: căn cứ khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 21, khoản 1 Điều 22, điểm a khoản 1 Điều 23, Điều 47 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội và tiểu mục 1 mục I phần A Danh mục án phí, lệ phí Tòa án ban hành kèm theo Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, mỗi bị cáo Nguyễn Minh H, Trần Anh D và Hoàng Nhật Y phải chịu 200.000 (hai trăm ngàn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
[6]. Về quyền kháng cáo: các bị cáo Nguyễn Minh H, Trần Anh D và Hoàng Nhật Y được quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị hại anh Nguyễn Văn P, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Đình H được quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được bản án chính hoặc bản án được niêm yết.
| Nơi nhận: - Bị cáo (03); - Bị hại (01); - Người có QLNVLQ đến vụ án (01); - TAND tỉnh Đồng Nai (01); - VKSND tỉnh Đồng Nai (01); - Sở Tư pháp tỉnh Đồng Nai (01); - VKSND cùng cấp (01); - Cơ quan ĐTCA H. Vĩnh Cửu (01); - Cơ quan THAHS CA H. Vĩnh Cửu (01); - Chi cục THADS H. Vĩnh Cửu (01); - Lưu hồ sơ, Văn phòng (02). | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ (đã ký tên, đóng dấu) Võ Xuân Sơn |